|
Cẩm nang Giáo Luật Thực Dụng :
Mục Lục
TẬP BỐN: NHIỆM VỤ THÁNH HÓA CỦA GIÁO Hội
CHƯƠNG VII : BÍ TÍCH HÔN PHỐI
MỤC I: TỔNG QUÁT.
208.- KHÁI NIỆM VỀ BÍ TÍCH HÔN PHỐI .
"Do giao ước hôn phối, người nam và người nữ tạo nên một cuộc thông hiệp trọn cả cuộc sống. Tự bản tính, giao ước hôn phối hướng về thiện ích của đôi bạn và việc sinh sản cùng giáo dục con cái. Chúa Kitô đã nâng giao ước giữa những người đã lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội lên hàng Bí Tích.
Bởi vậy, giữa những người đã lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội, không thể có khế ước hôn phối hữu hiệu nếu đồng thời không phải là Bí Tích.". (Can.1055).
Hôn phối là một khế ước thật sự, vì hai người liên hệ giao kết chấp nhận nhau là vợ, là chồng qua một thỏa ước hỗ tương. Khế ước này cũng còn là một giao ước, vì họ cùng đồng ý thiết lập một đời sống chung, suốt đời hướng về thiện ích của cả hai người, hướng về việc sinh sản cũng như giáo dục con cái.
Bản chất của hôn phối bao gồm trong định nghĩa diễn tả trong phần thứ nhất của Can.1055. Hiến chế "Giáo Hội trong thế giới ngày nay" (quen gọi là Hiến Chế Vui Mừng và Hy Vọng) xác định: "Hôn nhân và tình yêu vợ chồng, tự bản tính qui hướng về sự sinh sản và giáo dục con cái. Con cái là ơn huệ cao quí nhất của hôn nhân." (Gaudium et Spes. 50.) .
Đức Giáo Hoàng Phaolô VI cũng đã đề cập đến mục đích cao quí này trong Thông điệp " Sự Sống Con Người": "Vợ chồng cùng có khuynh hướng hợp tác với Thiên Chúa trong việc tạo dựng và giáo dục các đời sống mới." (Human Vitae, 8.)
Phần hai của Can.1055 một lần nữa, nhấn mạnh đến sự liên hệ giữa hai yếu tố thiện ích của đôi bạn và việc sinh sản cùng giáo dục con cái trong giao ước hôn nhân Công giáo: Giữa hai người đã rửa tội, không thể có hôn nhân hữu hiệu (valid) nếu thiếu một trong hai yếu tố. Hôn nhân Công Giáo là một khế ước, đồng thời cũng là một Bí Tích.
209.- ĐẶC TÍNH CỦA HÔN NH ÂN CÔNG GIÁO.
"Những đặc tính căn bản của hôn phối là sự duy nhất và bất khả phân ly. Nhờ tính cách Bí tích, những đặc tính ấy được kiện toàn đặc biệt trong hôn phối Kitô Giáo.". (Can.1056)
Duy nhất và bất khả phân ly là hai đặc tính của tất cả các hôn phối thành sự. Hôn phối "thành sự" tự nhiên giữa hai người không Công giáo cũng mang các đặc tính này. Trong những xã hội với chế độ đa thê hay đa phu, dưới nhãn quan của Giáo Hội, chỉ có hôn phối với người vợ hay người chồng thứ nhất được coi là thành sự. Như thế, hôn phối hữu hiệu giữa những người ngoại giáo cũng bất khả phân ly.
Giữa những người Kitô Giáo, hai đặc tính này còn mang một ý nghĩa bí nhiệm khác nữa theo hình ảnh sự kết hiệp giữa Chúa Kitô và Giáo Hội, một sự kết hiệp duy nhất và bất khả phân ly.
210.- SỰ ƯNG THUẬN
"Hôn phối thành tựu do sự ưng thuận của đôi bên, được phát biểu hợp lệ giữa những người có khả năng luật định; sự ưng thuận này không thể được thay thế bởi bất cứ một thế lực nào khác.
Sự ưng thuận kết hôn là một hành vi của ý chí; do đó, người nam và người nữ trao thân cho nhau và chấp nhận nhau, để tạo lập hôn phối bằng một giao ước không thể thu hồi lại.". (Can.1057).
Sự ưng thuận này khi được chính thức biểu lộ là một hành vi pháp lý, tạo nên một ràng buộc giữa hai người, với tất cả những hậu quả tất nhiên ẩn tàng trong đời sống của đôi hôn nhân. Tất cả những yếu tố khác, như không bị ngăn trở hoặc phải được cử hành theo thể thức luật định, cũng chỉ là những yếu tố "phụ" so với sự ưng thuận. Vì dù những điều này có thể cản trở trong việc hữu hiệu của Bí tích, nhưng chứng có thể được miễn chuẩn hay bãi bỏ do thẩm quyền hợp pháp của Giáo Hội. Việc ưng thuận trong tự do và được biểu lộ cách hiển hiện là điều bắt buộc, không thể miễn chuẩn hay bãi bỏ và phải được thực hiện giữa hai người liên hệ.
Sự ưng thuận này phải có tính cách hỗ tương, nghĩa là khi sự ưng thuận được một người tỏ bày, thì cũng phải có sự chấp nhận của một người khác.
Vì sự ưng thuận trong Hôn phối là yếu tố tất yếu cho việc hữu hiệu của hôn phối, nên một trường hợp hôn phối sẽ không được kể là có hiệu quả của giao ước hay Bí Tích gì cả khi thiếu vắng yếu tố này.
Vì là một hành vi pháp lý, nên sự ưng thuận phải được thực hiện trong tự do của hai người liên hệ và phải được thực hiện với những thể thức luật định, giống như khi người ta thực hiện các loại khế ước khác.
Sự ưng thuận được bày tỏ và chấp nhận trong tự do, tạo nên sự hữu hiệu của hôn nhân; trong khi hôn phối được thực hiện theo thể thức luật định, làm cho sự thực hiện hôn phối ấy hợp pháp.
Việc bày tỏ sự ưng thuận là đặc quyền của hai người liên hệ, trong việc quyết định tiến tới đời sống hôn phối của chính họ một cách hoàn toàn tự do, nên sẽ không thể có một hôn phối hữu hiệu nếu sự ưng thuận được bày tỏ do một người đại diện nào khác, dù trong hoàn cảnh nào và vai trò nào. Vì thế, những trường hợp cha mẹ ép buộc con cái phải nói lên sự ưng thuận trong buổi hôn lễ, sẽ khiến cho hôn phối của con cái không thành sự.
Không một thẩm quyền nào trên trần gian được phép miễn chuẩn, để một hôn phối thành sự mà không cần chính hai người liên hệ tự do bày tỏ và chấp nhận sự ưng thuận của chính họ.
Sự ưng thuận kết hôn còn là một hành vi của ý chí: hai người liên hệ tự do tự nguyện trao hiến cho nhau và chấp nhận nhau, trong một giao ước không thể hủy bỏ được để sống đời sống hôn nhân.
Không giống như trong Bộ luật cũ 1917, coi "quyền trên thân thể" (ius in corpus) là chủ đích của sự ưng thuận, Bộ luật 1983 diễn tả một cách nhẹ nhàng hơn:
Người nam và người nữ trao thân cho nhau (vitae communio) và chấp nhận nhau để tạo lập hôn nhân.
211.- QUYỀN KẾT HÔN.
"Mọi người không bị luật cấm đều có thể kết hôn.". (Can.1058).
Kết hôn là quyền tự nhiên của một con người. Tuy nhiên, luật pháp có thể cản trở một số người nào đó trong việc kết hôn. Những cản trở này có thể có là vì lợi ích của chính con người, người ta có thể phân biệt những cản trở này như sau:
. Bởi luật tự nhiên: như trong trường hợp một người bất lực hoàn toàn và vĩnh viễn.(xem c.1084; số 237)
. Bởi Thiên luật: như trong trường hợp những người đã lãnh nhận chức thánh hay đã khấn trọn đời trong các nhà Dòng. (xem c.1087; c.1088; số 240 và 241)
. Bởi nhân luật: như trong trường hợp hai người định kết hôn với nhau có liên hệ họ hàng gần nhau. (xem c.1091; c.1092; c.1093; c.1094; số 244 đến 247)
Những cản trở này được luật gọi là "Những ngăn trở Hôn Phối", những ngăn trở hôn phối làm cho việc cử hành hôn phối không hữu hiệu và không có giá trị. (xem từ số 225 đến 247)
212.- LUẬT HÔN PHỐI.
"Hôn phối của những người Công Giáo, cho dù chỉ có một bên là Công Giáo thôi cũng vậy, bị chi phối không những bởi luật Thiên Chúa, mà còn bởi luật của Giáo Hội nữa, tuy vẫn tôn trọng thẩm quyền của luật dân sự về những hiệu quả thuần túy dân sự của hôn nhân.". (Can.1059).
Hôn phối giữa những người Công Giáo được cử hành theo nghi thức luật định (Nghi thức Phụng Vụ Hôn Phối), không những có hiệu quả về Bí Tích và tôn giáo mà cũng còn có hiệu quả xét theo luật tự nhiên và luật dân sự nữa.
Ta có thể kể những yếu tố chi phối hôn nhân Công Giáo như sau:
. Hôn nhân Công Giáo chi phối bởi Thiên luật.
. Hôn nhân Công Giáo chi phối bởi luật Giáo Hội. (Giáo Hội được Thiên Chúa thiết lập, có thẩm quyền ban hành những luật lệ qui định về tính cách thành sự của hôn nhân hướng về những yếu tố bất khả phân ly của hôn phối).
. Các chính phủ có thể ban hành các luật lệ dân sự về hôn phối.
Hôn nhân của những người ngoại giáo bị chi phối hoàn toàn bởi luật dân sự, không đi ngược lại với Thiên luật, nhân luật và luật tự nhiên. Qua những nguyên tắc này, các chính phủ dân dự có thẩm quyền tương đương với thẩm quyền của Giáo Hội, trong việc ấn định và ban hành những luật lệ về hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, các chính phủ dân sự không được trao ban thẩm quyền để hủy bỏ (dissolvere) một giao ước hôn nhân.
213.- LUẬT PHÁP BẢO VỆ HÔN PHỐI.
"Hôn phối được hưởng sự che chở của luật pháp. Bởi đó, trong trường hợp hoài nghi, sự thành sự của hôn nhân được công nhận cho đến khi chứng minh ngược lại được.". (Can.1060).
Đây là nguyên tắc Giáo luật bảo toàn hôn nhân, Giáo Hội luôn nhìn nhận rằng một cuộc hôn nhân được cử hành với những yếu tố đã định (dù chỉ là bề ngoài), vẫn thành sự và có hiệu quả (thành hiệu), dù có thể có những ngăn trở kín ảnh hưởng tới sự thành hiệu của nó. Nguyên tắc này cũng được áp dụng cho cả những hôn phối của người ngoại đạo.
Như thế, khi nào một cuộc hôn nhân bắt đầu xuất hiện những vấn đề gieo nghi ngờ về sự thành hiệu của nó, thì Giáo Hội vẫn nhìn nhận nó thành hiệu, cho đến khi có đủ những yếu tố rõ ràng chứng minh rằng cuộc hôn nhân đó không thành hiệu.
Vì vậy, khi hai người liên hệ trong một cuộc hôn nhân đang có những nghi ngờ không thành hiệu của chính hôn nhân ấy, không được phép kết hôn lần thứ hai, cho đến khi nào chứng minh được rõ ràng và được thẩm quyền Giáo Hội nhìn nhận là lần hôn nhân trước đó không thành hiệu.
214.- THÀNH NHẬN VÀ HOÀN HỢP.
"Hôn phối hữu hiệu giữa những người đã rửa tội mới chỉ là "thành nhận" nếu chưa có sự hoàn hợp. Hôn phối được coi là thành nhận và hoàn hợp khi đôi bạn đã giao hợp với nhau một cách hợp với nhân tính. Sự giao hợp là hành động hướng đến việc sinh con cái, tức là một mục tiêu tự nhiên của hôn nhân, và do hành động ấy, đôi bạn trở nên một thân xác.
Sau khi cử hành hôn phối, nếu đôi bạn đã sống chung với nhau thì sự hoàn hợp được suy đoán là đã xảy ra cho đến khi chứng minh được ngược lại.
Một hôn phối vô hiệu được coi là giả định nếu đã được cử hành với ý ngay lành, ít ra là của một bên cho đến khi cả hai bên đều biết chắc chắn và chứng minh được là hôn phối của họ không thành hiệu.". (Can.1061)
Theo ngôn ngữ của Giáo Hội, "thành nhận" (ratum) là việc phê chuẩn của Giáo Hội qua người đại diện có thẩm quyền về tính cách Bí Tích của hôn phối. Nếu một hôn phối thành nhận đã được đôi bạn hoàn hợp (consummatum) qua hành động tính dục giao hợp, hợp với nhân tính, được gọi là một hôn phối thành nhận và hoàn hợp dù có thụ thai hay không.
Nếu hai người đã sống chung với nhau trong cùng một nhà, sau khi cử hành hôn phối, dù chỉ là một thời gian ngắn, Giáo Hội suy đoán là hôn phối thành nhận đó đã được hoàn hợp.
Khi một cuộc hôn phối bị coi là không thành hiệu và được chứng minh do một bên, và bên kia vì ý ngay tình khi cử hành, thì hôn phối đó được coi là thành hiệu giả định hay giả định (putativum) cho đến khi vì những yếu tố rõ ràng, cả hai bên đều biết chắc chắn và chứng minh được rằng hôn phối đó của họ vô hiệu.
Một hôn phối mà cả hai bên đều biết chắc không thành hiệu, không được gọi là giả định.
215.- HỨA HÔN.
"Lời hứa hôn của một bên hoặc của cả hai bên, tục gọi là đính hôn, đính hôn được chi phối do luật địa phương do Hội Đồng Giám Mục qui định dựa theo phong tục, luật dân sự và tập quán địa phương.
Lời hứa hôn không có hiệu quả luật pháp để đòi phải cử hành hôn phối; tuy nhiên, có thể sinh ra hiệu quả để đòi bồi thường thiệt hại nếu đã bị ảnh hưởng.". (Can.1062).
Luật chung của Giáo Hội không qui định gì về hứa hôn vì tùy theo phong tục địa phương, nơi có nơi không, Hội Đồng Giám Mục ở những nơi nào có tục lệ này sẽ ban hành những điều luật liên hệ.
Lời hứa hôn đã được phát biểu và một bên vì lý do nào đó không tuân giữ, thì bên kia không có quyền luật định bắt họ phải giữ để tiến tới hôn nhân. Tuy nhiên, những thiệt hại nếu có do sự hứa hôn này có thể trình lên Toà án địa phương để đòi bồi thường.
|