|
Cẩm nang Giáo Luật Thực Dụng :
Mục Lục
TẬP HAI: NHIỆM VỤ CAI QUẢN CỦA GIÁO Hội
Phần II : Cơ cấu của các Giáo Phận
CHƯƠNG IV : TỔ CHỨC VÀ ĐIỀU HÀNH GIÁO XỨ
73.- GIÁO XỨ.
Giáo xứ là một cộng đoàn tín hữu được thiết lập cách bền vững ở trong Giáo Hội địa phương, và việc săn sóc mục vụ được ủy thác cho Cha sở làm chủ chăn riêng, dưới quyền của Giám Mục giáo phận. (xem c.515)
"Trừ khi luật qui định cách khác, bán giáo xứ cũng được đồng hóa với giáo xứ. Bán giáo xứ là một cộng đoàn tín hữu ở trong Giáo Hội địa phương được ủy thác cho một tư tế như là chủ chăn riêng, nhưng vì hoàn cảnh đặc biệt chưa được thiết lập thành giáo xứ.
Ở đâu các cộng đoàn không thể thành lập thành giáo xứ hay bán giáo xứ được, thì Giám Mục giáo phận phải dự liệu việc săn sóc mục vụ cho họ bằng cách khác. ". (Can.515)
A.- CÁC LOẠI GIÁO XỨ.
Như thế, giáo xứ là một phần của giáo phận. Bên cạnh các giáo xứ thông thường, Bộ Giáo luật còn đề cập tới hai loại giáo xứ khác:
1. Giáo xứ được ủy thác cho một nhóm Linh mục, đứng đầu do một Tư tế đóng vai trò phối hợp các hoạt động mục vụ và chịu trách nhiệm trước Giám Mục giáo phận. (xem c.517,1)
2. Giáo xứ được ủy thác cho một Phó tế hay ngay cả một người nào khác không có chức Linh mục, nhưng được điều hành và săn sóc mục vụ do một Linh mục. (xem c.517,2)
B.- THÀNH LẬP GIÁO XỨ.
Chỉ duy có Giám Mục giáo phận có quyền thành lập, giải tán hoặc thay đổi các giáo xứ; tuy nhiên, ngài không nên thành lập, giải tán hoặc thay đổi một cách đáng kể các giáo xứ mà không tham khảo ý kiến Hội Đồng Linh mục.
Một khi đã được thành lập hợp lệ, giáo xứ đương nhiên được hưởng tính cách pháp nhân theo luật.". (Can.514)
C.- GIÁO XỨ TÒNG THỔ.
"Theo luật chung, giáo xứ phải có tính cách tòng thổ, nghĩa là bao gồm tất cả các tín hữu thuộc một địa sở nhất định; tuy nhiên, ở đâu thấy thuận lợi, cũng có thể thiết lập các giáo xứ tòng nhân xét vì lý do lễ điển, ngôn ngữ, quốc tịch của các tín hữu thuộc về một lãnh thổ hay kể cả một lý do nào khác. ". (Can.518)
Chiếu theo luật cư trú, những tín hữu có cư sở hay bán cư sở thuộc về lãnh thổ đã được qui định cho một giáo xứ thì thuộc giáo xứ đó và có Cha sở riêng của mình là Cha sở của giáo xứ đó. Một giáo xứ như thế gọi là giáo xứ tòng thổ.
D. GIÁO XỨ TÒNG NHÂN.
Giáo xứ tòng nhân là một giáo xứ không có lãnh thổ riêng, giáo xứ được cấu thành do một số người nào đó được qui định theo luật vì lý do ngôn ngữ, lễ điển hay chủng tộc...Giáo xứ tòng nhân được thành lập để trợ giúp mục vụ một cách hữu hiệu hơn cho những tín hữu này. Điều luật 382,2 nhắc nhở các Giám Mục giáo phận nên lưu tâm đến nhu cầu thiêng liêng của những tín hữu đã được trao phó cho ngài bằng cách thiết lập các giáo xứ tòng nhân hoặc nhờ một vị Đại diện Giám Mục nâng đỡ họ.
Giáo Hội khuyến khích việc thiết lập các giáo xứ tòng thổ hơn vì khi sống trong cùng một địa sở, gần gòi nhau, sự hiệp nhất dễ biểu tỏ hơn, hơn nữa, thẩm quyền của Cha sở trong lãnh vực tài phán cũng dễ thực hiện hơn.
Biên giới lãnh thổ của các giáo xứ gần nhau nên được ấn định rõ ràng và dứt khoát để tránh những trường hợp khó khăn nào đó có thể xảy ra sau này.
74.- CÁC CHA SỞ.
A. TỔNG QUÁT. "Cha sở là chủ chăn riêng của giáo xứ đã được giao phó, và thi hành việc săn sóc mục vụ của cộng đoàn được ủy thác dưới quyền của Giám Mục giáo phận, vì được gọi thông phần với Giám Mục vào tác vụ của Đức Kitô, ngõ hầu chu tất nhiệm vụ giảng dậy, thánh hóa và quản trị đối với cộng đoàn ấy, với sự cộng tác của các Linh mục khác hoặc với các Phó tế và cả sự hợp lực của các giáo dân, theo qui tắc luật định. ". (Can.519)
"Một pháp nhân không thể làm Cha sở; tuy nhiên, Giám Mục giáo phận, chứ Giám Quản giáo phận không được phép, với sự đồng ý của Bề Trên có thẩm quyền, có thể ủy thác một giáo xứ cho một Dòng tu Giáo sĩ hoặc cho một Tu đoàn Tông đồ Giáo sĩ, kể cả bằng việc thiết lập giáo xứ trong chính nguyện đường của Dòng tu hay của Tu đoàn, với điều kiện là một Linh mục phải là Cha sở hay trưởng ban điều hành theo điều 517 triệt 1 (*), nếu việc săn sóc mục vụ được ủy thác cách liên đới cho nhiều Linh mục. Việc ủy thác giáo xứ nói trên có thể là vĩnh viễn hoặc chỉ trong một thời gian nhất định; trong cả hai trường hợp, cần phải làm một hợp đồng bằng giấy tờ giữa Giám Mục giáo phận và các Bề trên có thẩm quyền của Dòng tu hoặc của Tu đoàn; trong tờ hợp đồng ấy, ngoài những điều khác, cần phải xác định rõ ràng và chi tiết công tác phải thi hành, nhân sự lãnh trách vụ và vấn đề tài chánh.". (Can.520)
(*) 517,1: Trong trường hợp một giáo xứ được điều hành do một nhóm các Tư tế.
B.-ĐIỀU KIỆN ĐỂ ĐƯỢC BỔ NHIỆM LÀM CHA SỞ
"Để một người có thể được bổ nhiệm cách hữu hiệu làm Cha Sở, cần phải đã chịu chức Linh mục.
Ngoài ra, người đó phải trổi vượt về đạo lý lành mạnh, tác phong đứng đắn, có nhiệt tâm với các linh hồn và những nhân đức khác, cũng như những đức tính mà luật hoặc phổ quát hoặc địa phương đòi hỏi để săn sóc một giáo xứ cụ thể.
Để bổ nhiệm người nào vào chức vụ Cha sở, cần phải biết rõ về khả năng của người đó, theo cách thức Giám Mục giáo phận ấn định, kể cả nhờ việc khảo hạch. ". (Can.521)
"Ở đâu hoàn cảnh đòi hỏi, việc săn sóc mục vụ của một giáo xứ hoặc của nhiều giáo xứ một trật có thể ủy thác cách liên đới cho nhiều tư tế, miễn là một người trong họ phải là trưởng ban điều hành việc săn sóc mục vụ; vị này hướng dẫn công việc hoạt động chung và chịu trách nhiệm trước Giám Mục.
Nếu vì thiếu các linh mục, Giáo Mục giáo phận xét thấy cần phải ủy thác sự tham gia thi hành công tác mục vụ cho một Phó tế hoặc cho một người nào khác không có chức Linh mục, hoặc cho một cộng đoàn, thì ngài cần phải đặt một Linh mục có quyền hành và năng ân dành cho một Cha Sở để lo điều hành việc săn sóc mục vụ." (Can.516)
C.- BỔN PHẬN CHA SỞ
"Mỗi Cha Sở chỉ phải giữ việc săn sóc một giáo xứ; tuy nhiên, nếu vì thiếu các Linh mục hoăc vì hoàn cảnh nào khác, một Cha Sở có thể được ủy thác săn sóc nhiều giáo xứ gần kề nhau.
Trong mỗi giáo xứ chỉ được có một Cha Sở hoặc một vị điều hành theo những qui tắc đã qui định". (xem c.526)
"Ai đã được tiến cử để giữ việc săn sóc mục vụ cho một giáo xứ, thì nhận lãnh trách vụ và có nghĩa vụ thi hành kể từ lúc tựu chức.
Bản Quyền sở tại hoặc một Linh mục được ngài ủy quyền dẫn Cha Sở đến tựu chức, dựa theo thể thức được chấp nhận do luật địa phương, hoặc do tục lệ hợp pháp.
Tuy nhiên khi có lý do chính đáng, Bản Quyền ấy có thể miễn chuẩn thể thức đó; trong trường hợp ấy, việc cáo tri sự miễn chuẩn cho giáo xứ có giá trị như sự tựu chức.
Thông thường, một Đại diện Giám Mục giới thiệu Cha sở tại nhà thờ giáo xứ trong một nghi lễ đã ấn định theo luật địa phương hay tục lệ hợp pháp. Cũng có những trường hợp Cha Quản hạt giới thiệu Cha sở theo cách thức tương tự. Trong trường hợp có những lý do chính đáng, việc giới thiệu như trên không thể thực hiện được, Bản Quyền sở tại sẽ miễn chuẩn và việc miễn chuẩn được thông báo trong nhà thờ của giáo xứ. Cáo tri miễn chuẩn này có giá trị như sự tựu chức của Cha sở nơi giáo xứ ấy.
Bản Quyền sở tại sẽ ấn định thời hạn mà Cha Sở phải tựu chức; nếu thời hạn đã trôi qua vô ích không tại một ngăn trở chính đáng, thì có thể tuyên bố giáo xứ khuyết vị.". (Can.527)
Thời hạn Cha sở phải tựu chức tại một giáo xứ kể từ ngày được báo tin sẽ do Giám Mục giáo phận ấn định. Vì một lý do nào đó về phía Cha sở được chỉ định, việc tựu chức không được thi hành và Giám Mục giáo phận cũng không được thông tri, Giám Mục giáo phận có thể tuyên bố giáo xứ khuyết vị, đồng thời có quyền chỉ định một Cha sở khác
"Cha Sở có bổn phận dự liệu để Lời Chúa được rao truyền cách toàn vẹn cho mọi người đang cư ngụ trong giáo xứ; vì thế phải lo giảng dạy các giáo dân về các chân lý Đức Tin, nhất là nhờ việc giảng lễ trong các ngày Chúa Nhật và các ngày Lễ Buộc, và nhờ việc dạy đạo lý; ủng hộ giúp đỡ những chương trình nhằm cổ động tinh thần Phúc Âm kể cả trong lãnh vực công bình xã Hội; cần phải để ý cách riêng tới việc giáo dục công giáo cho thiếu nhi và thanh niên; cố gắng, bằng mọi phương tiện có thể, cùng với sự hợp tác của các tín hữu, để sứ điệp Phúc Âm được đạt đến với cả những người đã lơ là việc giữ đạo hoặc không tuyên xưng Đức Tin chân thật nữa.
Cha Sở cố gắng để Bí tích Thánh Thể trở nên trung tâm của cộng đoàn giáo xứ; làm sao cho mọi tín hữu được nuôi sống bằng việc cử hành sốt sắng các Bí tích, cách riêng là thường xuyên lãnh nhận Bí tích Thánh Thể và Bí tích Thống Hối; ngoài ra, hãy cố gắng hướng dẫn các tín hữu biết cầu nguyện, kể cả việc cầu nguyện trong các gia đình, và biết tham dự cách có ý thức và tích cực vào việc phụng vụ, mà chính Cha Sở phải là người lo điều hành trong giáo xứ mình, dưới quyền của Giám Mục giáo phận, và phải canh chừng đừng để xảy ra những lạm dụng. ". (Can.528)
"Để siêng năng chu toàn chức vụ chủ chăn, Cha Sở hãy tìm cách hiểu biết mọi tín hữu đã ủy thác cho mình săn sóc; vì thế, cần đi thăm viếng các gia đình, san sẻ những lo lắng, ưu tư nhất là tang tóc của các tín hữu, và để an ủi họ trong Chúa; nếu họ có lỗi lầm gì, thì phải sửa bảo họ cách khôn khéo; đối với những bệnh nhân nhất là những người gần chết, hãy dốc hết tình bác ái với họ, tăng cường sức lực cho họ bằng các Bí Tích và phó thác linh hồn họ cho Thiên Chúa; hãy đặc biệt ân cần theo sát những người nghèo khổ, bệnh tật, những người cô đơn, những người bị lưu đầy và tất cả những người đang trải qua những sự khó khăn đặc biệt; cũng phải để ý lo cho các đôi vợ chồng và những người làm cha mẹ được nâng đỡ trong sự chu tất mọi phận sự riêng của họ và cổ võ sự tăng trưởng đời sống Kitô Giáo trong gia đình.
Cha sở hãy nhận biết và thức dục mọi tín hữu giáo dân góp phần riêng của họ vào sứ mệnh của Giáo Hội,bằng cách cổ động các Hiệp Hội nhằm các mục tiêu tôn giáo. Hãy cộng tác với Giám Mục của mình và với Linh mục đoàn của giáo phận, và làm sao cho các tín hữu duy trì sự hiệp thông trong giáo xứ và chính họ tự cảm thấy họ vừa là phần tử của giáo phận vừa là phần tử của Giáo Hội phổ quát, và để họ dự phần cũng như nâng đỡ mọi hoạt động nhằm làm tăng gia sự thông hiệp ấy.". (Can.529)
"Những trách vụ đã được ủy thác đặc biệt cho Cha Sở là:
- Ban Bí tích Rửa Tội;
- Ban Bí tích Thêm Sức cho những người đang trong lúc nguy tử, theo quy tắc của điều 883 số 3 (xem số 130);
- Ban của Ăn Đàng và Bí tích Xức Dầu, tuy vẫn tôn trọng quy tắc của điều 1003 triệt 2 và 3 (xem số 188); và ban Phép lành Tòa Thánh cho các bệnh nhân;
- Chứng giám Hôn phối và ban phép lành tân hôn;
- Cử hành lễ nghi an táng;
- Làm phép giếng Rửa tội trong mùa Phục sinh, chủ sự các cuộc rước ngoài thánh đường, và việc ban phép lành trọng thể ngoài thánh đường;
- Cử hành Thánh lễ cách trọng thể hơn trong các ngày Chúa Nhật và trong các ngày Lễ Buộc.". (Can.530)
D.-VIỆC MÃN CHỨC MỘT CHA SỞ
"Cha Sở mãn chức vụ vì bị bãi chức hoặc thuyên chuyển do Giám Mục giáo phận chiếu theo quy tắc của luật; vì sự tự ý từ chức có lý do chính đáng, và để được hữu hiệu, đơn xin từ chức phải được Giám Mục chấp nhận; kể cả vì hết hạn kỳ nếu Cha Sở đã được bổ nhiệm với thời hạn nhất định chiếu theo các quy định của luật địa phương nói ở điều 522 .
Việc bãi chức của một Cha Sở là phần tử của Dòng tu hoặc đã nhập tịch vào một Tu đoàn được chi phối bởi các quy tắc của điều 682 triệt 2. (phải báo cho Bề trên của đương sự)
Khi đã được bảy mươi lăm tuổi trọn, Cha Sở được yêu cầu đệ đơn từ chức lên Giám Mục giáo phận; chính Giám Mục cứu xét mọi hoàn cảnh về cá nhân và nơi chốn và sẽ quyết định chấp nhận hoặc khoan giãn việc từ chức. Giám Mục giáo phận phải dự liệu việc cấp dưỡng và nhà ở xứng hợp cho người đã từ chức, dựa theo các quy tắc do Hội Đồng Giám Mục đã định.". (Can.538)
75.- VIỆC BỔ NHIỆM CHA SỞ.
Duy chỉ Giám Mục giáo phận có thẩm quyền chỉ định Cha sở cho một giáo xứ qua việc tự ý ngài trao phó. (xem c.523)
"Giám Mục giáo phận, sau khi đã cân nhắc tất cả mọi hoàn cảnh, phải ủy thác giáo xứ đang khuyết vị cho người mà ngài nhận thấy đủ khả năng chu toàn việc săn sóc giáo xứ, và phải tránh mọi thiên vị cá nhân; để thẩm định về khả năng, ngài hãy tham khảo ý kiến Cha quản hạt và xức tiến việc thăm dò thích hợp bằng cách tham khảo ý kiến, nếu có thể được, của vài Linh mục cũng như giáo dân. ". (Can.524)
"Cha Sở cần được hưởng tính cách lâu bền, và vì thế cần được bổ nhiệm với thời gian vô hạn định; Giám Mục giáo phận chỉ có thể bổ nhiệm Cha Sở cho một thời gian hữu hạn, nếu Hội Đồng Giám Mục đã chấp nhận điều đó qua một nghị quyết.". (Can.522)
Theo luật chung, một Cha sở phải được bổ nhiệm với thời gian vô hạn định, nhưng thường thường các Hội Đồng Giám Mục địa phương ấn định một thời hạn nhất định cho việc bổ nhiệm các Cha sở. Giám Mục giáo phận phải tuân hành những qui định địa phương này. "Trong lúc trống tòa hoặc cản tòa thì Giám quản giáo phận hoặc người nào tạm thời quản trị giáo phận được quyền:
1. Thiết lập hoặc phê chuẩn những Linh mục đã được đề cử hoặc bầu cử hợp lệ cho một giáo xứ;
2. Bổ nhiệm các Cha Sở, nếu sự trống tòa hay cản tòa đã kéo dài quá một năm. ". (Can.525)
76.- CHA SỞ VÀ GIÁO XỨ.
"Trong tất cả mọi hành vi pháp lý. Cha Sở là người đại diện của giáo xứ chiếu theo quy tắc luật định; ngài phải lo để mọi tài sản của giáo xứ được quản lý theo quy tắc của các điều 1281-1288.". (Can.532) (xem từ số 84 đến 89)
"Cha Sở có bổn phận phải cư trú trong nhà xứ gần thánh đường; tuy nhiên, trong những trường hợp đặc biệt vì lý do chính đáng, Bản Quyền sở tại có thể cho phép Cha Sở trọ ở nơi khác, nhất là ở trong nhà chung dành cho nhiều Linh mục, miễn là phải dự liệu sao để các nhiệm vụ thuộc giáo xứ được chu toàn cách chu đáo và đắc lực.
Trừ khi có lý do nào hệ trọng, Cha Sở mỗi năm được phép vắng mặt khỏi giáo xứ để đi nghỉ trong thời kỳ tối đa là một tháng, liên tục hoặc gián đoạn; thời gian đi nghỉ này không bao gồm những ngày mà Cha Sở phải dự cuộc tĩnh tâm mỗi năm một lần. Tuy nhiên, để có thể vắng mặt khỏi giáo xứ quá một tuần lễ, Cha Sở buộc phải báo cho Bản Quyền sở tại biết.
Giám Mục giáo phận có bổn phận ban hành những quy tắc để trong thời gian Cha Sở vắng mặt, việc săn sóc giáo xứ sẽ được bảo đảm bởi một tư tế với những năng ân cần thiết.". (Can.533)
"Sau khi đã nhận giáo xứ, Cha Sở có nghĩa vụ phải dâng thánh lễ cho đoàn dân đã ủy thác cho mình vào các ngày Chúa Nhật và Lễ Buộc trong giáo phận; ai bị ngăn trở hợp lệ thì phải nhờ một người khác dâng lễ thay trong chính các ngày đó hoặc chính mình dâng lễ vào các ngày khác.
Cha Sở nào lo săn sóc nhiều giáo xứ thì chỉ buộc dâng một thánh lễ cho tất cả đoàn dân đã ủy thác cho ngài vào những ngày nói trên.
Cha Sở nào không chu toàn nghĩa vụ nói trên, thì ngài phải lo dâng thánh lễ cho dân sớm hết sức, tất cả số lễ mà ngài đã bỏ sót.". (Can.534)
77.- QUỸ GIÁO XỨ.
"Cho dù một người nào khác đã thi hành chức vụ thuộc giáo xứ, tất cả mọi thứ dâng cứng của các tín hữu trong dịp ấy phải bỏ vào quỹ của giáo xứ, trừ khi với những đóng góp tự nguyện, ý định của người dâng đã rõ cách nào khác.
Giám Mục giáo phận, sau khi đã tham khảo ý kiến của Hội đồng Linh mục, phải ban hành những quy tắc dự liệu về các dâng cứng ấy được dành cho ai cũng như về thù lao cho các giáo sĩ được hưởng khi thi hành chức vụ đó.". (Can.531)
"Đối với các của dâng cứng mà các tín hữu dành cho Cha phó trong khi thi hành các tác vụ mục vụ, thì cũng phải tuân giữ qui định trên đây.(xem c.551)
78.- CÁC SỔ SÁCH TRONG GIÁO XỨ.
"Trong mỗi giáo xứ phải có các sổ sách hàng xứ, tức là sổ Rửa Tội, sổ Hôn Phối, sổ An Táng và các sổ khác mà Hội Đồng Giám Mục hoặc Giám Mục giáo phận đã quy định; Cha Sở phải lo ghi chép các sổ sách đó cách kỹ lưỡng và giữ gìn cẩn thận.
A. SỔ RỬA TỘI. Trong sổ Rửa Tội phải ghi chú thêm cả việc Thêm Sức và tất cả những gì liên hệ tới tình trạng giáo luật của các tín hữu vì lý do Hôn phối, trừ quy định của điều 1133 (*), vì lý do dưỡng tử cũng như việc lãnh nhận chức thánh, khấn trọn đời trong Dòng tu và sự thay đổi lễ điển; tất cả những ghi chú đó luôn luôn phải được ghi lại trong chứng thư đã chịu phép Rửa Tội.
(*) 1133: Những trường hợp hôn phối được cử hành kín đáo, không được phép ghi trong Sổ Rửa tội.
B. TRIỆN, ẤN CỦA GIÁO XỨ. Mỗi giáo xứ phải có triện ấn riêng; các chứng thư về tình trạng giáo luật của các tín hữu, cũng như tất cả các văn kiện có thể có giá trị pháp lý đều phải được ký nhận bởi Cha Sở hoặc người được ủy quyền và mang triện của giáo xứ.
C. VĂN KHỐ. <>Mỗi giáo xứ phải có Công hàm hoặc Văn khố, trong đó lưu giữ các sổ sách của giáo xứ, cùng với các văn thư của các Giám Mục và các tài liệu khác cần được bảo tồn vì nhu cầu hoặc vì lợi ích; tất cả các sổ sách và các tài liệu đó cần được kiểm soát bởi Giám Mục giáo phận hoặc người được ủy quyền trong lúc kinh lý hoặc trong thời gian nào khác thuận tiện. Cha Sở phải đề phòng đừng để cho các sổ sách đó lọt vào tay người ngoại cuộc.
Những sổ sách lâu đời của giáo xứ cũng phải lo lưu giữ cẩn thận, chiếu eo các quy định của luật địa phương. ". (Can.535)
79.- HỘI ĐỒNG MỤC VỤ GIÁO XỨ.
"Nếu Giám Mục giáo phận xét là thuận lợi, sau khi đã tham khảo ý kiến a Hội đồng Linh mục, thì trong mỗi giáo xứ nên thành lập Hội đồng Mục vụ, do Cha Sở chủ tọa, và trong đó các tín hữu cùng với những người, chiếu theo chức vụ tham gia vào việc săn sóc mục vụ trong giáo xứ cùng đóng góp sự cộng tác của mình vào việc cổ võ sinh hoạt mục vụ.
Hội đồng Mục vụ chỉ có quyền tư vấn, và được điều hành theo các quy tắc do Giám Mục giáo phận đã ấn định.". (Can.536)
Trong các giáo phận hay thường thì trong một quốc gia, Hội Đồng Giám Mục soạn thảo qui chế cho các Hội đồng Mục vụ sinh hoạt nơi các giáo xứ. Nguyên tắc chung được Giáo luật qui định đó là Hội đồng Mục vụ chỉ có quyền tư vấn mà thôi, nghĩa là Cha Sở không bị bó buộc vâng theo ý kiến của Hội đồng Mục vụ, nhưng tùy thẩm định khôn ngoan của ngài. Tuy nhiên, khi tất cả các thành viên trong Hội đồng đều nhất trí về một vấn đề, Cha Sở không nên đi ngược lại nếu không có một lý do thật quan trọng để làm như thế.
80.- HỘi ĐỒNG KINH TẾ GIÁO XỨ.
"Mỗi giáo xứ phải có Hội đồng Kinh tế được điều hành bởi luật phổ quát và bởi các quy tắc do Giám Mục giáo phận ban hành; trong Hội đồng ấy, các tín hữu được tuyển chọn theo các quy tắc vừa nói, giúp Cha Sở trong việc quản lý mọi tài sản của giáo xứ, tuy vẫn tôn trọng quy định của điều 532.".(*) (Can.537)
(*) c.532: Trong tất cả các hànhvi pháp lý, Cha Sj là người đại diện của giáo xứ.
Cũng giống như trường hợp của Hội đồng Mục vụ, Hội đồng Kinh tế chỉ đóng vai trò tư vấn bên cạnh Cha Sở trong lãnh vực quản lý giáo xứ.
81.- GIÁM QUẢN GIÁO XỨ.
"Khi giáo xứ khuyết vị hoặc khi Cha Sở bị ngăn cản không thể thi hành nhiệm vụ mục vụ trong giáo xứ vì bị giam tù, quản thức hoặc phát lưu, vô năng lực hoặc sức khỏe sa sứt, hoặc vì những lý do nào khác, Giám Mục giáo phận phải chỉ định sớm hết sức một Giám Quản giáo xứ, tức là một Tư tế thay thế Cha Sở theo quy tắc của điều 540 theo sau đây.". (Can.539)
"Giám Quản giáo xứ buộc phải thi hành các nghĩa vụ và được hưởng những quyền lợi cũng như Cha Sở, trừ khi Giám Mục giáo phận ấn định thể khác.
Giám Quản giáo xứ không được phép làm điều gì có thể làm thương tổn đến quyền lợi của Cha Sở hoặc có thể làm thiệt hại cho tài sản của giáo xứ.
Sau khi đã hoàn tất chức vụ, Giám Quản giáo xứ phải thanh toán sổ sách với Cha Sở.". (Can.540)
82.- CHA PHÓ
A.- TỔNG QUÁT.
"Mỗi khi xét thấy cần thiết hay thuận lợi cho việc săn sóc mục vụ tốt đẹp của một giáo xứ, thì ngoài Cha Sở ra, có thể đặt một hoặc nhiều Cha phó như cộng sự viên của Cha Sở và san sẻ mọi nỗi lo âu với Cha Sở, đồng tâm nhất trí và dưới quyền của Cha Sở để thi hành nhiệm vụ mục vụ.
Một Cha phó có thể được đặt để lo toàn thể tác vụ mục vụ trong một giáo xứ hay một phần nhất định của giáo xứ hay một nhóm tín hữu nào đó thuộc giáo xứ, hoặc để đảm trách một tác vụ đặc định trong nhiều giáo xứ khác nhau một trật. ". (Can.545)
"Trong lúc giáo xứ khuyết vị và cũng như khi Cha Sở bị ngăn cản thi hành nhiệm vụ mục vụ, trước khi Giám Quản giáo xứ được đặt lên, thì việc quản trị tạm thời giáo xứ sẽ do Cha phó đảm nhiệm; nếu có nhiều Cha phó, thì do Cha phó nào được bổ nhiệm trước hết; và nếu không có Cha phó, thì do Cha Sở nào được luật địa phương chỉ định.
Ai lo quản trị giáo xứ theo quy tắc trên đây, phải lập tức báo tin cho Bản Quyền sở tại biết về việc giáo xứ khuyết vị.". (Can.541)
B.- BỔ NHIỆM.
"Để một người có thể được bổ nhiệm cách hữu hiệu làm Cha phó, thì cần đương sự đã lãnh chức Linh mục.". (Can.546)
"Giám Mục giáo phận được tự do bổ nhiệm Cha phó, sau khi bàn hỏi ý kiến, nếu thấy tiện, với Cha Sở hoặc với các Cha Sở của những giáo xứ mà Cha phó được cử tới, và cả với cha Quản Hạt, đừng kể quy định của điều 682 triệt 1. (*) ". (Can.547)
(*) Trong trường hợp giáo xứ đã được Úy thác cho một Dòng tu, Bề trên của Dòng tu sẽ lo liệu lấy.
C.- BỔN PHẬN CỦA CHA PHÓ
"Mọi nghĩa vụ và mọi quyền lợi của Cha phó được xác định bởi những điều luật của chương này, và bởi quy chế của giáo phận và văn thư bổ nhiệm của Giám Mục giáo phận, và nhất là do ủy nhiệm của Cha Sở.
Nếu văn thư bổ nhiệm của Giám Mục không quy định minh thị cách nào khác, Cha phó, chiếu theo chức vụ, có nghĩa vụ giúp Cha Sở trong toàn thể tác vụ của giáo xứ, ngoại trừ việc dâng thánh lễ cho dân, và có nghĩa vụ thay thế Cha Sở nếu trường hợp xảy ra, theo quy tắc luật định.
Cha phó phải thường xuyên báo cáo cho Cha Sở biết mọi chương trình đã hoạt định hoặc đang tiến hành, ngõ hầu Cha Sở và Cha phó hoặc các Cha phó sẽ cùng hợp lực với nhau để dự liệu việc săn sóc mục vụ cho giáo xứ, mà họ đồng lãnh trách nhiệm. ". (Can.548)
Như thế, quyền lợi và nghĩa vụ của Cha phó được ấn định trong những văn kiện:
1. Những qui định của luật chung;
2. Qui chế của giáo phận;
3. Văn thư bổ nhiệm;
4. Ủy nhiệm của Cha Sở.
"Khi Cha Sở vắng mặt, nếu Giám Mục giáo phận không dự liệu cách nào khác và nếu không đặt Giám Quản giáo xứ, Cha phó sẽ đảm nhiệm trách vụ của Cha Sở và đồng thời cũng có tất cả mọi nghĩa vụ của Cha Sở, trừ việc dâng thánh lễ cho dân.". (xemc.549)
"Cha phó buộc phải cư trú trong giáo xứ, hoặc trong một trong các giáo xứ nếu đương sự được đặt làm phó cho nhiều giáo xứ. Tuy nhiên, khi có lý do chính đáng, Bản Quyền sở tại có thể cho phép Cha phó cư trú nơi khác nhất là trong nhà chung dành cho các Linh mục, miễn sao việc chu toàn các nhiệm vụ mục vụ không vì thế mà bị thiệt thòi.
Ở đâu có thể, Bản Quyền sở tại nên lo liệu để Cha Sở và các Cha phó thực hành thói quen sống chung với nhau cách nào đó trong nhà xứ. Về thời gian đi nghỉ, Cha phó cũng được hưởng quyền lợi giống như Cha Sở. ". (Can.550)
D.- SỰ MÃN CHỨC CỦA CHA PHÓ
"Khi có lý do chính đáng, Cha phó có thể bị Giám Mục giáo phận hoặc Giám Quản giáo phận bãi chức, miễn là tôn trọng quy định của điều 682 triệt 2. (*)". (Can.552)
(*) Trong trường hợp giáo xứ đã được ủy thác cho một Dòng tu.
83.- CHA QUẢN HẠT.
Để cổ võ việc săn sóc mục vụ bằng những hoạt động chung, nhiều giáo xứ lân cận gần nhau có thể hợp lại thành những hợp đoàn địa phương như các Giáo hạt chẳng hạn. (xem c. 374,2)
"Cha Quản Hạt, cũng gọi là Niên trưởng hoặc Tổng Linh mục hoặc một danh xưng nào khác, là một tư tế được đặt làm đầu một Giáo hạt. Nếu luật địa phương không ấn định cách khác, thì Cha Quản Hạt do Giám Mục giáo phận bổ nhiệm; tùy theo sự nhận định khôn ngoan, ngài nên tham khảo ý kiến các Linh mục hiện đang thi hành tác vụ trong Giáo Hạt.". (Can.553)
"Chức vụ Cha Quản Hạt không được gắn liền với chức vụ của Cha Sở của một giáo xứ nào nhất định; Giám Mục hãy lựa chọn Tư tế nào mà ngài nhận xét thấy có khả năng, sau khi ngài đã thẩm định mọi hoàn cảnh về nơi chốn và thời thế.
Cha Quản Hạt được bổ nhiệm với thời hạn nhất định, do luật địa phương xác định. Tùy theo sự quyết định khôn ngoan, Giám Mục giáo phận có thể tự do bãi chức Cha Quản Hạt khi có lý do chính đáng.". (Can.554)
"Cha Quản Hạt, ngoài những năng ân mà luật địa phương đã dành cho ngài cách hợp lệ, có nghĩa vụ và quyền lợi:
1. Cổ võ và phối hợp hoạt động mục vụ chung trong Giáo Hạt;
2. Lo liệu để các giáo sĩ trong hạt sống xứng đáng với bậc mình, và siêng năng chu toàn mọi nghĩa vụ của mình;
3. Dự liệu để mọi nghi lễ tôn giáo được cử hành theo đứng mọi quy định của Phụng vụ; để ý đến việc trang hoàng và sự sạch sẽ trong các thánh đường và các đồ đạc thánh, nhất là trong việc cử hành Thánh Lễ và trong việc lưu giữ Thánh Thể;
4. Trông coi về việc ghi chép và lưu trữ các sổ sách nhà xứ, về việc quản lý chu đáo mọi tài sản của Giáo Hội; sau cùng, về sự bảo trì cẩn thận các nhà xứ.
Trong Giáo Hạt đã ủy thác, Cha Quản Hạt phải:
- Làm sao để các giáo sĩ, theo những quy định của luật địa phương, đi tham dự vào những thời kỳ đã định, các khóa học, các lớp Hội thảo về Thần học hoặc những buổi thuyết trình chiếu theo quy tắc của điều 279 triệt 2. (*)
- Phải lo để giúp đỡ các Linh mục trong Hạt về mặt thiêng liêng, và phải tỏ ra ân cần đối với các Linh mục hiện đang gặp phải những hoàn cảnh khó khăn hoặc đang bị dày vũ về nhiều vấn đề.
Cha Quản Hạt phải lo để cho các Cha Sở thuộc Hạt mà mình biết là hiện bị đau nặng, sẽ không bị thiếu thốn về phương diện tinh thần cũng như vật chất, và lo cho việc an táng các Cha Sở được cử hành xứng đáng; cũng phải dự liệu để khi Cha Sở lâm bệnh hoặc qua đời, thì mọi sổ sách, mọi tài liệu, mọi đồ vật thánh và tất cả những gì khác thuộc về thánh đường không bị hư hại hoặc mất mát.
Cha Quản Hạt có bổn phận thăm viếng tất cả các giáo xứ thuộc Hạt của mình theo thể thức mà Giám Mục giáo phận đã ấn định.". (Can.555)
(*) Về việc tham dự các khóa tu nghiệp Thần học...
84.- CHA QUẢN ĐỐC NHÀ THỜ
"Các Quản Đốc nhà thờ được hiểu ở đây là các Tư tế được ủy thác săn sóc một nhà thờ để cử hành lễ nghi ở đó. Nhà thờ ấy không thuộc giáo xứ, cũng không thuộc Hội Kinh sĩ, cũng không phải phụ thuộc vào tu viện của Dòng tu hay Tu đoàn Tông đồ.". (Can.556)
"Quản Đốc nhà thờ sẽ do Giám Mục giáo phận tự do bổ nhiệm, miễn là tôn trọng quyền bầu cử hoặc đề cử mà người nào đó đã có cách hợp lệ; trong trường hợp này, Giám Mục giáo phận có quyền phê chuẩn hoặc thiết lập.
Cho dù nhà thờ thuộc một dòng tu giáo sĩ theo luật giáo hoàng, thì Giám Mục giáo phận vẫn có thẩm quyền thiết lập Quản Đốc nhà thờ do bề trên đề cử.
Giám Đốc của chủng viện hoặc của trường học do các giáo sĩ điều hành sẽ làm Quản Đốc của một nhà thờ gắn liền với chủng viện hoặc với trường học ấy, trừ khi Giám Mục giáo phận định thể khác.". (Can.557)
"Ngoại trừ điều 262 (*), Quản đốc không được phép thi hành trong nhà thờ đã ủy thác cho mình những trách vụ giáo xứ nói ở điều 530 số 1-6 (**), nếu không có sự đồng ý của Cha Sở hoặc sự ủy quyền của Cha Sở nếu sự việc đòi hỏi.". (Can.558)
(*) Trong trường hợp nguy tử.
(**) Bổn phận của một Cha Sở đối với giáo xứ của ngài.
"Trong nhà thờ đã ủy thác cho mình, Quản Đốc có thể thi hành mọi nghi lễ phụng vụ kể cả một cách trọng thể, miễn là giữ những luật lệ thành lập hợp lệ và miễn là, theo thẩm định của Bản Quyền sở tại, không làm thiệt hại gì cho tác vụ của giáo xứ.". (Can.559)
"Ở đâu xét thấy thuận lợi, Bản Quyền sở tại có thể truyền cho Quản Đốc phải thi hành trong nhà thờ vài nghi lễ nhất định dành cho giáo dân, tuy dù thuộc trách vụ giáo xứ, cũng như phải mở cửa nhà thờ cho một vài nhóm tín hữu tới đó để cử hành những nghi lễ phụng vụ.". (Can.560)
"Dưới quyền của Bản Quyền sở tại và tôn trọng mọi qui chế hợp lệ và những quyền lợi thủ đắc, Quản đốc nhà thờ buộc phải lo liệu để mọi nghi lễ thánh được cử hành xứng đáng trong nhà thờ theo đứng qui tắc phụng vụ và các qui định của các luật; để các trách vụ được thi hành chu đáo, để tài sản được quản lý cách chuyên cần, các đồ đạc thánh và nơi thánh được bảo trì và trang hoàng và đừng để xảy ra điều gì không thích hợp bằng bất cứ cách nào đối với nơi thánh và sự tôn kính phải có đối với nhà Chúa.". (Can.562)
"Khi có lý do chính đáng và tùy theo sự quyết định khôn ngoan của mình, Bản Quyền sở tại có thể bãi chức Quản đốc nhà thờ cho dù vị đó đã được bầu cử hoặc đã được đề cử bởi những người khác, miễn là tôn trọng qui định của điều 682 triệt 2. (*)". (Can.563)
(*) Trong trường hợp một nhà thờ đã được ủy thác cho một Dòng tu.
85. CÁC CHA TUYÊN ÚY.
"Đối với những người vì điều kiện sinh sống không thể được hưởng sự săn sóc thông thường của các Cha sở, chẳng hạn như những người di cư, lưu vong, tị nạn, du mục, thủy thủ, thì tùy mức độ có thể, nên đặt các Tuyên Úy để giúp họ.". (Can.568)
"Tuyên Úy là một Tư tế được ủy thác việc săn sóc mục vụ cách thường xuyên, ít là một phần nào, của một cộng đoàn hoặc cho một nhóm tín hữu đặc biệt, và phải thi hành theo đứng qui tắc của luật phổ quát và luật địa phương. ". (Can.564)
"Bản Quyền sở tại có quyền bổ nhiệm Tuyên Úy, cũng như thiết lập người đã được đề cử hoặc phê chuẩn người đã được bầu cử, trừ khi luật đã dự liệu cách khác hoặc người nào khác đã có quyền đặc biệt hợp lệ.". (Can.565)
A.- TUYÊN ÚY CỘNG ĐOÀN TÍN HỮU.
"Tuyên Úy cần được cấp cho mọi năng ân mà công việc săn sóc mục vụ đòi hỏi. Ngoài những năng ân đã được hưởng do luật địa phương hoặc do ủy nhiệm đặc biệt, Tuyên Úy chiếu theo chức vụ, có năng ân giải tội cho các tín hữu đã ủy thác cho ngài săn sóc, rao giảng Lời Chúa cho họ, ban của ăn đàng và ban Bí tích Xức dầu bệnh nhân, cũng như Bí tích Thêm sức cho những ai hiện đang trong tình trạng nguy tử .
"Nếu là một nhà thờ không phải là giáo xứ gắn liền với trụ sở của một cộng đoàn hoặc của một nhóm, thì Tuyên Úy sẽ làm Quản đốc nhà thờ ấy, trừ khi việc săn sóc cộng đoàn hoặc nhà thờ đòi hỏi cách khác.". (Can.570)
"Trong khi thi hành nhiệm vụ mục vụ, Tuyên Úy cần duy trì sự phối hiệp đứng mức với Cha sở.". (Can.571)
Trong các bệnh viện, khám đường và trong các hành trình hàng hải, Tuyên Úy còn được năng ân được giải các vạ tiền kết không dành riêng cho Tòa Thánh và chưa tuyên bố, đừng kể qui định của điều 976; năng ân ấy chỉ được thi hành trong những nơi vừa nói.". (Can.566)
B.- TUYÊN ÚY CÁC DÒNG TU.
"Bản Quyền sở tại không nên bổ nhiệm Tuyên Úy cho một dòng tu giáo dân mà không tham khảo ý kiến của Bề trên; Bề trên có quyền đề cử một Linh mục, sau khi đã Hội ý với cộng đoàn. Tuyên Úy có quyền cử hành hoặc điều khiển mọi nghi lễ phụng vụ; nhưng không được phép can thiệp vào việc quản trị nội bộ của dòng.". (Can.567)
C.- TUYÊN ÚY QUÂN ĐỘI.
"Các Tuyên Úy của quân đội, được chi phối bởi những luật đặc biệt.". (Can.569)
D.- VIỆC MÃN CHỨC TUYÊN ÚY.
<>"Khi có lý do chính đáng và tùy theo sự quyết định khôn ngoan của mình, Bản Quyền sở tại có thể bãi chức Tuyên Úy cho dù vị đó đã được bầu cử hoặc đã được đề cử bởi những người khác.
|