|
Cẩm nang Giáo Luật Thực Dụng :
Mục Lục
TẬP HAI: NHIỆM VỤ CAI QUẢN CỦA GIÁO Hội
Phần II : Cơ cấu của các Giáo Phận
Chương I. Tổ chức Giáo Phận
43. Giáo phận
"Các Giáo Hội địa phương, trong đó và từ đó mà một Giáo Hội Công Giáo duy nhất hiện hữu, ám chỉ trước hết là các Giáo phận; các lãnh thổ thuộc Giám Hạt tòng thổ và Đan Viện tòng thổ. Đại Diện Tông Tòa và Phủ Doãn Tông Tòa và cả Giám Quản Tông Tòa được thiết lập cách thường trực cũng được đồng hóa với các Giáo phận, trừ khi đã rõ cách nào khác.". (Can.368)
"Giáo phận là một phần dân Chúa được giao phó cho một Giám Mục săn sóc cùng với sự cộng tác của Linh mục đoàn, để nhờ sự liên kết với Chủ chăn mình và bởi sự tập họp của Chủ chăn trong Chúa Thánh Linh, nhờ Phúc Âm và Thánh Thể, cộng đồng ấy lập thành Giáo Hội địa phương, trong đó Giáo Hội của Đức Kitô, duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền, thực sự hiện diện và tác động.". (Can.369)
"Theo luật chung, một phần dân Chúa, tạo thành một Giáo phận hoặc một Giáo Hội địa phương khác, được giới hạn trong một lãnh thổ nhất định, bao gồm tất cả các tín hữu đang cư ngụ trong lãnh thổ.
Tuy nhiên, khi nào quyền bính tối cao của Giáo Hội, sau khi tham khảo ý kiến của các Hội Đồng Giám Mục liên hệ, xét thấy ích lợi, thì có thể thiết lập trong cùng một lãnh thổ nhiều Giáo Hội địa phương khác biệt, vì lý do lễ điển của tín hữu hoặc vì lý do khác tương tự.". (Can.372)
Về tổ chức Giáo phận, Bộ Giáo luật xử dụng cách diễn tả của Sắc lệnh về các Giám Mục (Christus Dominus, 11) . Giáo phận, hay Giáo Hội địa phương (De Ecclesiis Particularibus) là từ ngữ được dùng để ám chỉ một phần dân Chúa trong một lãnh thổ nhất định nào đó, được săn sóc do một Giám Mục hay một thẩm quyền tương đương, thường quen được gọi là Giáo phận.
Một Giáo phận không phải là một chi nhánh của Giáo Hội hoàn vũ, nhưng là một cộng đồng của những người cùng tuyên xưng một Đức tin, cùng chia sẻ một đời sống Bí tích, được giao phó cho một Giám Mục điều hành; lãnh thổ của một Giáo phận không nhất thiết là yếu tố tạo nên Giáo phận như trong trường hợp định nghĩa về một quốc gia dân sự; trong tổ chức của Giáo phận, lãnh thổ chỉ để giúp việc điều hành về hành chánh dễ dàng hơn.
Giám Mục giáo phận; do đó, vừa là đại diện của Giáo Hội hoàn vũ đối với các tín hữu trong Giáo phận của Ngài; đồng thời Ngài cũng chính là đầu và là đại diện của Giáo Hội địa phương mà Ngài trách nhiệm trong việc thông hiệp với Giáo Hội hoàn vũ và các Giáo Hội địa phương khác. Khi hành sử vai trò Giám Mục, Ngài không làm việc cách cô độc, nhưng hiệp thông với các Giám Mục khác trong Giám Mục đoàn (Collegio Episcoporum) và với sự trợ lực của Linh mục đoàn trong hệ thống phẩm trật của Giáo Hội.
44. Giám Hạt và Đan Viện
"Giám hạt Tòng Thổ hoặc Đan Viện tòng thổ là một phần nhất định của dân Chúa, được giới hạn trong một lãnh thổ, mà vì hoàn cảnh đặc biệt, sự săn sóc được giao phó cho một Giám Chức hoặc cho một Viện Phụ để quản trị với tư cách của một Chủ chăn riêng, tựa như Giám Mục giáo phận.". (Can.370)
Xét về phương diện hình thức tổng quát, Giám Hạt tòng thổ và Đan Viện tòng thổ tương đương với một Giáo phận, nhưng không thực sự là một Giáo phận xét về phương diện điều hành, có nghĩa là không đứng đầu do một Giám Mục Giáo phận. Giám Hạt tòng thổ và Đan Viện tòng thổ không thuộc về Giáo phận, dù tọa lạc trong lãnh thổ của Giáo phận ấy. Các Giáo sĩ và giáo dân trong đó được điều hành do một Giám Chức tòng thổ hay một Đan Viện Phụ tòng thổ (tùy theo đó là một Giám Hạt hay Đan Viện) với tư cách đại diện Đức Thánh Cha. Có thể lấy thí dụ trường hợp Bản Quyền riêng của Tuyên Úy Quân đội, Ngài đại diện Đức Thánh Cha và có năng quyền riêng tương đương với một Giám Mục.
45. Đại Diện Tông tòa, Phủ Doãn Tông tòa
"Hạt Đại Diện Tông tòa hoặc Hạt Phủ Doãn Tông tòa, là một phần nhất định của dân Chúa, mà vì hoàn cảnh đặc biệt, chưa được thiết lập như là một Giáo phận, và việc chăn dắt được giao cho một Đại Diện Tông Tòa hoặc cho một Phủ Doãn Tông Tòa để quản trị thay mặt Đức Thánh Cha.". (Can.371,1)
Theo luật chung, Hạt Đại Diện Tông tòa diễn tả một giáo đoàn địa phương đã được thiết lập với hình thức của một Giáo phận; trong khi Hạt Phủ Doãn Tông tòa chưa được thiết lập với hình thức của một Giáo phận thường thấy nơi các xứ truyền giáo.
Nói cách chung, Hạt Đại Diện Tông tòa hoặc Hạt Phủ Doãn Tông tòa, là những giáo đoàn trong các xứ truyền giáo trong tiến trình tiến tới việc thành lập Giáo phận: Đầu tiên, một xứ truyền giáo được thiết lập; sau đó trở thành Hạt Phủ Doãn tông tòa, đứng đầu do một Phủ Doãn Tông Tòa; rồi trở thành Hạt Đại Diện tông tòa được đứng đầu do một Đại Diện Tông Tòa, thường là một Giám Mục Hiệu tòa. Cuối cùng trở thành một Giáo phận.
46. Giám Quản Tông tòa
"Hạt Giám Quản Tông Tòa là một phần nhất định của dân Chúa mà vì những lý do đặc biệt và hết sức hệ trọng, không được Đức Thánh Cha thiết lập như là một Giáo phận, và việc săn sóc mục vụ được giao cho một Giám Quản Tông Tòa quản trị thay mặt Đức Thánh Cha.". (Can.371,2)
Trong thời gian gần đây, với những xung đột và khác biệt chính trị giữa Giáo Hội và các chính phủ dân sự, việc thiết lập một Giáo phận khó có thể thực hiện được, Tòa Thánh đã dự liệu một cơ cấu riêng biệt cho các giáo đoàn tín hữu gọi là Hạt Giám Quản Tông Tòa, được điều hành do một Giám Quản Tông Tòa để săn sóc mục vụ cho giáo đoàn. Giám Quản Tông Tòa có năng quyền tương tự như một Đại Diện Tông Tòa hay Phủ Doãn Tông Tòa. (xem số 45)
47. Thẩm quyền thành lập Giáo Hội địa phương
"Chỉ duy có quyền bính tối cao mới có thẩm quyền thiết lập các Giáo Hội địa phương; các Giáo Hội địa phương một khi đã được thiết lập hợp lệ, thì được hưởng tư cách pháp nhân chiếu theo luật.". (Can.373)
Kể từ thế kỷ XI, thẩm quyền thành lập các Giáo Hội địa phương được dành riêng cho Tòa Thánh. Việc phân chia, sát nhập hay bãi bỏ một Giáo Hội địa phương dù không minh thị ấn định, nhưng cũng được hiểu là do thẩm quyền tối cao của Giáo Hội. Một Giáo phận khi đã được thiết lập hợp lệ, thì được hưởng tư cách pháp nhân chiếu theo luật. (xem số 17)
CHƯƠNG II: CÁC GIÁM MỤC
48.- HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC.
"Hội đồng Giám Mục, một định chế có tính cách thường trực, là một đoàn thể của các Giám Mục thuộc một quốc gia hoặc một lãnh thổ nhất định, đồng thi hành một vài nhiệm vụ mục vụ đối với các tín hữu thuộc lãnh thổ đó, nhằm cổ võ thiện ích lớn lao hơn cả mà Giáo Hội cống hiến cho mọi người, nhất là qua các hình thức và phương thế làm tông đồ được thích ứng vào những hoàn cảnh của từng thời và từng nơi, theo qui tắc luật định.". (Can.447)
"Hội đồng Giám Mục, theo luật chung, gồm tất cả các Giám Mục của các Giáo Hội địa phương thuộc cùng một quốc gia, theo qui tắc điều 450. (xem điều 450)
Tuy nhiên, nếu Tòa Thánh, sau khi đã bàn hỏi với các Giám Mục giáo phận liên hệ, xét rằng các hoàn cảnh nhân sự hoặc sự việc đòi hỏi, thì Hội Đồng Giám Mục có thể được thành lập cho một lãnh thổ nhỏ bé hoặc rộng lớn hơn; như vậy, hoặc chỉ bao gồm các Giám Mục của một vài Giáo Hội địa phương nằm trong một lãnh thổ nhất định, hoặc gồm các Giám Mục của các Giáo Hội địa phương thuộc nhiều quốc gia khác biệt. Tòa Thánh có thẩm quyền ấn định các qui tắc đặc biệt cho mỗi Hội Đồng ấy.". (Can.448)
"Chỉ duy quyền bính tối cao của Giáo Hội, sau khi đã tham khảo ý kiến với các Giám Mục liên hệ, mới có quyền thành lập, bãi bỏ hoặc thay đổi các Hội Đồng Giám Mục.
Hội Đồng Giám Mục, một khi đã được thành lập hợp lệ, đương nhiên theo luật được hưởng tư cách pháp nhân.". (Can.449); (xem số 17)
"Đương nhiên theo luật, là thành viên của Hội Đồng Giám Mục: Tất cả các Giám Mục giáo phận trong lãnh thổ và các vị được luật đồng hóa với các ngài, cũng như các Giám Mục Phó, các Giám Mục Phụ tá và các Giám Mục Hiệu tòa khác hiện đang thi hành một chức vụ đặc biệt do Tòa Thánh hoặc do Hội Đồng Giám Mục ủy thác trong chính lãnh thổ đó; cũng có thể được mời tham dự: Các Bản Quyền thuộc lễ điển khác, nhưng chỉ với quyền tư vấn, trừ khi nào nội qui của Hội Đồng Giám Mục ấn định thể khác.
Các Giám Mục Hiệu tòa khác và các Phái viên của Đức Thánh Cha không phải là những thành viên của Hội Đồng Giám Mục do luật chung.". (Can.450)
49.- CÁC GIÁO TỈNH.
"Để cổ võ sự hoạt động mục vụ chung giữa các giáo phận lân cận, tùy theo hoàn cảnh về nhân sự và về nơi chốn, cũng như để xiết chặt hơn những sự liên lạc hỗ tương giữa các Giám Mục giáo phận, các Giáo Hội địa phương gần nhau sẽ được hợp lại thành các Giáo Tỉnh, với giới hạn lãnh thổ rõ rệt.
Theo qui tắc chung, trong tương lai sẽ không còn các Giáo phận được miễn trừ nữa; vì thế, tất cả các Giáo phận và các Giáo Hội địa phương khác ở trong lãnh thổ của cùng một Giáo Tỉnh phải được sát nhập vào Giáo Tỉnh đó.
Chỉ có quyền bính tối cao của Giáo Hội, sau khi đã Hội ý với các Giám Mục liên hệ, mới có thẩm quyền thiết lập, bãi bỏ hoặc sửa đổi các Giáo Tỉnh.". (Can.431)
Giáo Tỉnh được hưởng tính cách pháp nhân theo luật.". (xem c..432)
Mỗi Giáo tỉnh đứng đầu là một Tổng Giám Mục. (Việt nam có ba Giáo tỉnh: Giáo tỉnh Hà-Nội; Giáo tỉnh Huế và Giáo tỉnh Sàigòn)
50.- CÁC GIÁO MIỀN.
"Nếu xét thấy có lợi, nhất là trong các quốc gia có nhiều Giáo Hội địa phương, thì các Giáo Tỉnh lân cận, theo đề nghị của Hội Đồng Giám Mục, có thể được Tòa Thánh cho liên kết với nhau thành Giáo Miền.
Giáo Miền có thể được lập thành pháp nhân.". (Can.433)
"Hội nghị các Giám Mục thuộc Giáo Miền có nhiệm vụ xiết chặt sự hợp tác và hoạt động mục vụ chung trong miền. Tuy nhiên, những quyền hành mà các điều trong Bộ Giáo luật này dành cho Hội Đồng Giám Mục sẽ không có hiệu lực đối với Hội nghị đó, trừ những quyền nào đã được Tòa Thánh ban cấp cách đặc biệt.". (Can.434)
51.- CÁC GIÁM MỤC NÓI CHUNG.
"Các Giám Mục là những người, do ý định của Thiên Chúa, kế vị các Tông đồ do quyền lực của Chúa Thánh Linh đã ban cho họ, được đặt làm các Chủ chăn trong Giáo Hội để làm những thày dạy giáo lý. tư tế phụng tự và tác viên lo việc quản trị. Các Giám Mục, nhờ chính việc thụ phong Giám Mục, nhận lãnh cùng với nhiệm vụ thánh hóa, cả các nhiệm vụ giảng dạy và quản trị nữa. Tuy nhiên, nhiệm vụ giảng dạy và thánh hóa, theo bản tính, chỉ có thể hành sử trong sự hiệp thông phẩm trật với thủ lãnh và với mọi phần tử tập đoàn.". (Can.375)
52.- CÁC TỔNG GIÁM MỤC.
"Tổng Giám Mục làm đầu Giáo tỉnh, đồng thời là Tổng Giám Mục của giáo phận mà ngài được đặt lên quản trị. Chức vụ này gắn liền với một tòa Giám Mục nhất định được Đức Thánh Cha ấn định hoặc phê chuẩn.". (Can.435)
"Trong các giáo phận thuộc hạt, Tổng Giám Mục có thẩm quyền:
1. Canh chừng để đức tin và kỷ luật Giáo Hội được tuân hành chu đáo, và thông báo cho Đức Thánh Cha biết về những lạm dụng nếu có;
2. Thi hành việc kinh lược, vì một lý do được Tòa Thánh phê chuẩn trước, nếu các Giám Mục thuộc hạt đã lơ đễnh việc kinh lược;
3. Bổ nhiệm Giám quản giáo phận, theo qui tắc của các điều luật 421,2 và 425,3.
Ở đâu hoàn cảnh đòi hỏi, Tòa Thánh có thể ủy cho Tổng Giám Mục những nhiệm vụ và quyền hành đặc biệt do luật địa phương xác định.
Tổng Giám Mục không có một quyền quản trị nào khác trong các Giáo phận thuộc hạt; nhưng ngài có thể cử hành mọi lễ nghi thánh trong các thánh đường như là các Giám Mục trong giáo phận riêng, miễn là phải báo tin cho Giám Mục giáo phận biết trước, khi nào cử hành trong một nhà thờ chính tòa.". (Can.436)
"Tổng Giám Mục có nghĩa vụ phải đích thân hoặc nhờ đại diện xin Đức Thánh Cha ban dây "Pallium" trong thời gian 3 tháng kể từ ngày thụ phong Giám Mục, hoặc nếu đã thụ phong Giám Mục rồi thì kể từ lúc được bổ nhiệm. Dây "Pallium" là dấu hiệu quyền hành mà Tổng Giám Mục được hưởng trong giáo tỉnh riêng, theo luật, trong sự hiệp thông với Giáo Hội Roma.
Tổng Giám Mục có thể mang dây "Pallium" trong bất cứ thánh đường nào thuộc Giáo tỉnh mà ngài đứng đầu theo qui tắc của luật phụng vụ; nhưng ngoài Giáo tỉnh thì không được mang, cho dù có sự đồng ý của Giám Mục giáo phận.
Tổng Giám Mục được thuyên chuyển sang một tòa khác thì cần phải xin "Pallium" mới.". (Can.437)
53.- CÁC GIÁM MỤC GIÁO PHẬN.
"Các Giám Mục được gọi là Giám Mục giáo phận, những vị đã được giao phó cho việc săn sóc một giáo phận nào đó; các vị khác được gọi là Giám Mục hiệu tòa.". (Can.376)
Từ ngữ quen dùng để ám chỉ Giám Mục giáo phận (Episcopus Dioecesanus) là Giám Mục chính tòa. Mỗi Giám Mục đều được ủy thác một Giáo phận, Giám Mục nào hiện diện và trực tiếp điều hành, chăm sóc Giáo phận được ủy thác thì gọi là Giám Mục chính tòa; Giám Mục nào được ủy thác một Giáo phận, nhưng Giáo phận đó không cũng hiện hữu trong thực tế vì một hay nhiều lý do nào đó, và vì như vậy, Giám Mục ấy không hiện diện và điều hành Giáo phận được ủy thác mà chỉ mang danh hiệu của Giáo phận ấy thôi thì được gọi là Giám Mục hiệu tòa.
"Ở trong giáo phận đã được giao phó, Giám Mục giáo phận có mọi quyền hành thông thường, riêng biệt và trực tiếp cần có để thi hành nhiệm vụ mục vụ của ngài, ngoại trừ những nhiệm vụ mà pháp luật hoặc sắc luật của Đức Thánh Cha đã dành lại cho quyền bính tối cao hoặc một quyền bính nào khác trong Giáo Hội.
Tất cả những ai đứng đầu các cộng đoàn giáo hữu khác như đã nói ở điều 368, đều được luật đồng hóa với Giám Mục giáo phận, trừ những gì đã rõ cách khác theo bản tính sự việc hoặc theo qui tắc luật định.". (Can.381); (xem từ số 43 đến 47)
A.- Nhiệm vụ Cai Quản của Giám Mục giáo phận:
"Giám Mục giáo phận cai quản Giáo Hội địa phương đã ủy thác cho ngài với quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp chiếu theo qui tắc luật định.
Giám Mục đích thân hành sử quyền lập pháp; quyền hành pháp được hành sử do chính ngài hoặc nhờ các Tổng Đại Diện hoặc các Đại Diện Giám Mục theo qui tắc luật định; quyền tư pháp được hành sử do chính ngài hoặc nhờ Đại Diện tư pháp và các thẩm phán, theo qui tắc luật định.". (Can.391)
"Xét vì ngài có nghĩa vụ bảo vệ sự duy nhất của Giáo Hội phổ quát, Giám Mục phải cổ võ kỷ luật chung của toàn thể Giáo Hội, và vì thế ngài phải thôi thức việc tuân hành tất cả mọi luật lệ của Giáo Hội.
Ngài phải đề phòng đừng để du nhập những lạm dụng kỷ luật trong Giáo Hội, nhất là về tác vụ Lời Chúa, việc cử hành các Bí Tích và các Á Bí Tích, iệc tôn kính Thiên Chúa, các Thánh và việc quản lý tài sản.". (Can.392)
"Giám Mục giáo phận là đại diện cho giáo phận trong hết mọi công việc pháp lý của giáo phận.". (Can.393)
"Giám Mục hãy cổ võ mọi hình thức tông đồ khác nhau trong giáo phận, và hãy lo sao để trong toàn thể giáo phận hoặc ở những đơn vị riêng biệt trong giáo phận, tất cả mọi hoạt động tông đồ được phối hợp với nhau dưới sự điều khiển của mình, tuy vẫn giữ tính cách riêng biệt của mỗi hoạt động.
Phải thức dục mọi giáo hữu chu toàn bổn phận làm việc tông đồ tùy theo điều kiện và khả năng của mỗi người, và phải khuyến khích họ tham gia cũng như nâng đỡ mọi hoạt động tông đồ khác nhau, tùy theo nhu cầu của mỗi nơi và mỗi thời.". (Can.394)
"Trong khi thi hành chức vụ Chủ chăn, Giám Mục giáo phận hãy tỏ ra ân cần đối với hết mọi tín hữu đã được giao phó, bất cứ thuộc tuổi, điều kiện hoặc quốc tịch nào, những người cư ngụ trong lãnh thổ cũng như những người ở đó tạm thời; ngài cũng hãy bày tỏ nhiệt huyết tông đồ cho cả những ai, vì điều kiện sinh sống, không thể được hưởng cách đầy đủ sự săn sóc mục vụ thông thường, cũng như những ai đã bỏ bê việc giữ đạo.
Trong giáo phận có những tín hữu thuộc lễ điển khác, thì ngài hãy dự liệu cho mọi nhu cầu thiêng liêng của họ hoặc nhờ các Linh mục hoặc các Cha sở thuộc chính lễ điển đó, hoặc nhờ một vị Đại diện Giám Mục.
Đối với anh em không hiệp thông đầy đủ với Giáo Hội Công Giáo, ngài hãy cư xử với tình nhân đạo và bác ái và cổ võ phong trào đại kết theo đường hướng của Giáo Hội. Ngài hãy coi những người chưa chịu phép Rửa tội như cũng được Chúa giao phó cho mình, ngõ hầu tình thương của Đức Kitô cũng chiếu sáng cho họ, xét vì Giám Mục phải là chứng nhân của Đức Kitô trước mặt mọi người.". (Can.383)
"Giám Mục giáo phận phải lo lắng đặc biệt cho các Linh mục, hãy để ý lắng nghe họ như là những phụ tá và cố vấn; hãy bênh vực các quyền lợi của họ; lo cho họ chu toàn đứng mức những nghĩa vụ riêng cho bậc của họ, và giúp cho họ đủ phương tiện và định chế cần có để thăng tiến đời sống thiêng liêng và trí tuệ; cũng phải trù liệu cho họ được trợ cấp xứng đáng và có bảo hiểm xã Hội theo như luật định.". (Can.384)
"Giám Mục giáo phận phải tận lực cổ động những ơn gọi vào các tác vụ khác nhau và vào đời tận hiến; đặc biệt lưu ý đến các ơn gọi làm Linh mục và thừa sai.". (Can.385)
B.- Nhiệm vụ Giảng Dạy của Giám Mục giáo phận:
"Giám Mục giáo phận phải trình bày và giải thích cho các tín hữu những chân lý đức tin mà họ phải tin theo và áp dụng trong đời sống, vì vậy chính ngài phải năng đích thân rao giảng; ngài cũng phải canh chừng để các qui định trong Giáo luật liên quan tới tác vụ Lời Chúa được tuân hành chu đáo, nhất là về các bài giảng lễ và việc huấn giáo, làm sao để toàn bộ đạo lý Kitô giáo được truyền thụ cho tất cả mọi người. hãy cương quyết dùng mọi phương thế hữu hiệu hơn cả để bảo vệ sự toàn vẹn và duy nhất của Đức tin; tuy đồng thời nhìn nhận sự tự do chính đáng trong việc tìm hiểu chân lý cách sâu rộng hơn.". (Can.386)
C.- Nhiệm vụ Thánh Hóa của Giám Mục giáo phận:
"Ý thức rằng mình phải làm gương mệu thánh thiện bằng tình bác ái, khiêm tốn và sống đơn giản, Giám Mục giáo phận hãy ra sức cổ động bằng mọi cách để các tín hữu nên thánh tùy theo ơn gọi riêng của từng người; và bởi vì là người phân phát chính yếu của mọi mầu nhiệm của Thiên Chúa, ngài hãy hoạt động không ngừng để mọi tín hữu đã giao phó cho mình săn sóc được tăng trưởng trong ơn Thánh nhờ việc cử hành các Bí Tích, và để họ nhận biết và sống mầu nhiệm vượt qua.". (Can.387)
"Giám Mục giáo phận, sau khi đã tựu chức, phải dâng thánh lễ cầu cho đoàn dân đã được giao phó, vào các ngày Chúa Nhật và các ngày Lễ buộc khác trong miền của mình.
Giám Mục phải đích thân dâng thánh lễ cầu cho dân trong những ngày đã nói trên đây; nếu vì ngăn trở hợp lệ không dâng lễ được, thì trong những ngày đó phải nhờ người khác dâng lễ, hoặc đích thân dâng lễ vào các ngày khác.
Giám Mục nào, ngoài giáo phận riêng của mình còn được ủy thác các giáo phận khác kể cả với danh hiệu Giám quản, thì chỉ buộc dâng một thánh lễ cho toàn dân đã ủy thác cho ngài mà thôi.
Giám Mục nào có bổn phận bó buộc như đã nói trên đây, nếu thiếu sót bổn phận, thì phải lo sớm hết sức để chỉ cho đoàn dân bao nhiêu số lễ đã bỏ sót.". (Can.388)
"Giám Mục nên thường xuyên chủ sự thánh lễ trong nhà thờ chính tòa hoặc trong các thánh đường khác của giáo phận, nhất là trong những ngày lễ buộc và trong những dịp trọng thể khác.". (Can.389)
"Giám Mục giáo phận có thể cử hành mọi nghi thức giáo chủ trong toàn thể giáo phận của mình; cũng ngoài giáo phận riêng, ngài không có quyền ấy nếu không có sự thỏa thuận minh thị hoặc ít là suy đoán cách hợp lý của Bản Quyền Sở tại.". (Can.390)
D.- Nhiệm vụ riêng của Giám Mục giáo phận:
"Giám Mục giáo phận, cho dù đã có một Giám Mục Phó hay Giám Mục Phụ tá, vẫn phải giữ luật trú sở trong giáo phận buộc chính bản thân.
Trừ lý do phải viếng Tòa Thánh, hoặc Hội họp Công đồng, Thượng Hội Nghị Giám Mục, Hội Đồng Giám Mục hay phải thi hành nhiệm vụ nào khác đã được ủy thác hợp lệ, Giám Mục có thể vắng mặt khỏi giáo phận vì lý do chính đáng không quá một tháng hoặc liên tục hoặc gián đoạn, miễn là phải trù liệu được rằng Giáo phận không bị thiệt hại gì vì sự vắng mặt của mình.
Không được vắng mặt khỏi Giáo phận trong những ngày lễ Chúa Giáng Sinh, ần Thánh và Phục sinh, Lễ Hiện Xuống và lễ Mình Máu Thánh Đức Kitô, nếu không có lý do hệ trọng và khẩn cấp.
Nếu Giám Mục vắng mặt khỏi Giáo phận cách bất hợp pháp quá sáu tháng, thì Tổng Giám Mục phải thông tri cho Tòa Thánh biết về sự kiện ấy; nếu chính Tổng Giám Mục vắng mặt, thì Giám Mục cao niên hơn cả trong các Giáo phận thuộc hạt phải thông tri.". (Can.395)
"Hằng năm, Giám Mục có bổn phận phải kinh lược hoặc tất cả hoặc một phần giáo phận, sao cho ít là trong vũng năm năm có thể kinh lược toàn thể Giáo phận, hoặc đích thân hoặc, nếu ngài bị cản trở hợp lệ, nhờ Giám Mục Phó, hoặc Giám Mục Phụ tá, hoặc Tổng Đại Diện hoặc Đại Diện Giám Mục, hoặc một Linh mục nào khác.
Giám Mục có thể chọn những giáo sĩ nào ngài thích để tháp tùng và giúp đỡ trong việc kinh lược; mọi đặc ân và tục lệ trái ngược đều phải bị bài bác.". (Can.396)
"Giám Mục có quyền kinh lược thông thường những nhân sự, cơ sở Công giáo, sự vật và các nơi Thánh nằm trong lãnh thổ của Giáo phận.
Giám Mục chỉ có thể tới kinh lược các phần tử, các dòng tu thuộc luật Giáo hoàng và các tu viện của họ, trong những trường hợp được luật qui định rõ rệt.". (Can.397)
"Giám Mục phải liệu thi hành việc kinh lược mục vụ cách chu đáo, và hãy tránh đừng gây phiền toái hay gánh nặng cho ai vì những chi phí không cần.". (Can.398)
"Cứ mỗi năm năm, Giám Mục giáo phận phải nạp Phúc trình lên Đức Thánh Cha về tình trạng của Giáo phận đã được ủy thác cho ngài, theo mệu thức và thời gian do Tòa Thánh đã ấn định.
Nếu năm đã được ấn định để nạp Phúc trình về Tòa Thánh mà trùng hợp hoặc toàn thể, hoặc một phần với hai năm đầu kể từ khi đảm nhiệm việc quản trị Giáo phận, thì lần đó Giám Mục có thể được miễn làm và nạp Phúc trình.". (Can.399)
"Vào đứng năm phải nạp Phúc trình lên Đức Thánh Cha, nếu Tòa Thánh không qui định cách khác, Giám Mục Giáo phận phải về Rôma để viếng mộ các Thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô và yết kiến Đức Thánh Cha.
Giám Mục buộc phải tự mình chu toàn bổn phận nói trên; trừ khi bị ngăn trở hợp lệ, thì có thể nhờ thay thế bởi Giám Mục Phó, nếu có, hoặc Giám Mục Phụ tá hay một Linh mục xứng đáng thuộc Linh mục đoàn của mình hiện đang cư ngụ trong Giáo phận.
Đại Diện Tông Tòa có thể thi hành bổn phận này qua một Đại diện, kể cả nhờ một người sống ở Rôma; Phủ Doãn Tông Tòa không buộc giữ nghĩa vụ này.". (Can.400)
"Khi đã trọn bảy mươi lăm tuổi, Giám Mục giáo phận được yêu cầu đệ đơn lên Đức Thánh Cha và Đức Thánh Cha sẽ dự liệu sau khi đã cân nhắc tất cả mọi hoàn cảnh.
Nếu vì đau yếu hoặc vì lý do trầm trọng nào khác khiến cho khả năng chu toàn chức vụ bị suy giảm, thì Giám Mục giáo phận được khẩn khoản yêu cầu đệ đơn từ chức.". (Can.401)
"Giám Mục nào đã được chấp thuận từ chức thì sẽ giữ tước hiệu là cựu Giám Mục của giáo phận cũ, và nếu muốn, ngài vẫn có thể cư trú ngay trong Giáo phận đó, ngoại trừ những trường hợp mà vì hoàn cảnh đặc biệt, Tòa Thánh đã dự liệu khác.
Hội Đồng Giám Mục phải lo việc chu cấp tương hợp và xứng đáng cho Giám Mục đã từ chức, tuy dầu bổn phận chính yếu thuộc về Giáo phận mà trước đây vị ấy đã phục vụ.". (Can.402)
54.- BỔ NHIỆM GIÁM MỤC.
"Đức Thánh Cha được tự do bổ nhiệm các Giám Mục, hoặc phê chuẩn những vị đã được bầu cử hợp lệ.
Ít là ba năm một lần, các Giám Mục của một Giáo tỉnh, hoặc ở đâu hoàn cảnh khuyến khích, các Giám Mục của Hội Đồng Giám Mục, phải thỏa thuận với nhau và với tính cách bí mật, lập một danh sách các Linh mục kể cả các phần tử của các dòng tu, xem ai có tư cách làm Giám Mục; và gửi bản danh sách đó cho Tòa Thánh; tuy nhiên, mỗi Giám Mục vẫn được quyền thông tri cho Tòa Thánh một cách riêng rẽ danh tánh những Linh mục được ngài xét thấy xứng đáng và có tư cách để lãnh nhiệm vụ Giám Mục.
Trừ khi đã ấn định cách nào khác hợp lệ, mỗi khi cần bổ nhiệm một Giám Mục giáo phận hoặc một Giám Mục phó, thì trong việc đề nghị lên Tòa Thánh danh sách ba người, phái viên của Đức Thánh Cha có nhiệm vụ điều tra về từng người một và thông báo cho Tòa Thánh, cùng với ý kiến của mình, tất cả đề nghị của Tổng Giám Mục và các Giám Mục thuộc hạt của giáo tỉnh mà Giáo phận ấy trực thuộc hay được kết nạp, cũng như của Chủ Tịch Hội
Đồng Giám Mục. Ngoài ra, phái viên của Đức Thánh Cha nên bàn hỏi cả với vài người thuộc Hội Đồng Tư Vấn và thuộc kinh sĩ đoàn nhà thờ chính tòa và nếu xét thấy tiện, nên hỏi ý kiến riêng rẽ và kín đáo của những người khác thuộc giáo sĩ Dòng, Triều cũng như của những giáo dân có tiếng là khôn ngoan.
Trừ khi đã dự liệu cách nào khác hợp lệ, Giám Mục giáo phận nào xét thấy cần một phụ tá cho Giáo phận của mình thì sẽ đệ trình lên Tòa Thánh bản danh sách gồm ít nhất là ba Linh mục xứng đáng hơn cả để lãnh nhiệm vụ này.
Từ nay về sau, không được cho chính quyền dân sự quyền lợi và đặc ân bầu cử, bổ nhiệm, đề cử hoặc chỉ định các Giám Mục.". (Can.377)
"Để xứng đáng được tiến cử lên chức Giám Mục, đương sự cần phải:
1.Trổi vượt về đức tin vững vàng, tính nết tốt, đạo đức, nhiệt tâm với các linh hồn, thông thái, khôn ngoan và những nhân đức nhân bản khác, và có những đức tính giúp cho đương sự đủ khả năng chu toàn chức vụ;
2. Có danh thơm tiếng tốt;
3. Ít là đã trọn ba mươi lăm tuổi;
4. Chịu chức Linh mục ít là đã năm năm;
5. Có văn bằng tiến sĩ, hoặc ít ra có cử nhân về Thánh Kinh, Thần Học hoặc Giáo luật ở một cao đẳng học viện được Tòa Thánh công nhận, hoặc ít ra thực sự chuyên môn về những môn đó.
Sự phán quyết tối hậu về khả năng xứng đáng của ứng viên thuộc về Tòa Thánh.". (Can.378)
"Nếu không bị ngăn trở hợp lệ, người được tiến cử lên chức Giám Mục phải được tấn phong Giám Mục trong vũng ba tháng kể từ ngày nhận được văn thư của Tòa Thánh, trước khi tựu chức.". (Can.379)
"Trước khi tựu chức, kẻ đã được tiến cử phải tuyên xưng Đức Tin và tuyên thệ trung thành với Tòa Thánh theo mXXXệu thức đã được Tòa Thánh công nhận.". (Can.380)
"Kẻ đã được tiến cử làm Giám Mục không được pha mình vào việc thi hành chức vụ đã được giao phó, trước khi tựu chức trong Giáo phận theo đứng luật định; tuy nhiên, đương sự có thể thi hành các chức vụ đã giữ trong chính Giáo phận đó trước ngày được tiến cử Giám Mục, miễn là giữ nguyên vẹn điều 409, triệt 2. (xem c.409)
Nếu không bị ngăn trở hợp lệ, kẻ được tiến cử lên chức vụ Giám Mục giáo phận phải tựu chức trong vũng bốn tháng kể từ ngày nhận văn thư Tòa Thánh nếu chưa được thụ phong Giám Mục; nếu đã được thụ phong Giám Mục rồi, thì trong vũng hai tháng kể từ ngày nhận văn thư.
Giám Mục tựu chức kể từ lúc, trong chính Giáo phận đó, ngài đích thân hoặc nhờ đại diện trình văn thư Tòa Thánh cho Hội Đồng Tư Vấn trước sự hiện diện của Chưởng Ấn Giáo Phủ, và vị này lập biên bản; hoặc trong Giáo phận mới được thiết lập, thì kể từ lúc thông báo văn thư đó cho giáo sĩ và giáo dân có mặt trong nhà thờ chính tòa, và biên bản được lập do một Linh mục cao niên hơn cả trong số các Linh mục hiện diện.
Rất khuyến khích việc tựu chức diễn ra bằng một nghi thức phụng vụ trong nhà thờ chính tòa trước sự hiện diện của giáo sĩ và giáo dân.". (Can.382)
55.- CÁC GIÁM MỤC PHÓ VÀ GIÁM MỤC PHỤ TÁ.
"Khi nào nhu cầu mục vụ của Giáo phận đòi hỏi, sẽ được đặt một hoặc nhiều Giám Mục phụ tá, theo lời yêu cầu của Giám Mục giáo phận; Giám Mục phụ tá không có quyền kế vị. Trong những hoàn cảnh trầm trọng hơn, kể cả vì lý do cá nhân có thể ban cho Giám Mục giáo phận một phụ tá với những năng ân đặc biệt.
Nếu xét thấy thích hợp, Tòa Thánh có thể chiếu nhiệm vụ đặt một Giám Mục Phó, cùng với những năng ân đặc biệt; Giám Mục Phó có quyền kế vị.". (Can.403)
"Giám Mục phó tựu chức khi đích thân hoặc nhờ một đại diện trình văn thư bổ nhiệm của Tòa Thánh cho Giám Mục giáo phận và Hội Đồng Tư Vấn, trước sự hiện diện của Chưởng ấn giáo phủ và vị này lập biên bản.
Giám Mục Phụ tá tựu chức khi ngài trình văn thư bổ nhiệm của Tòa Thánh cho Giám Mục giáo phận, trước sự hiện diện của Chưởng ấn giáo phủ, và vị này lập biên bản.
Giả như Giám Mục giáo phận bị ngăn trở hoàn toàn, chỉ cần Giám Mục Phó hoặc Giám Mục Phụ tá trình văn thư bổ nhiệm của Tòa Thánh cho Hội Đồng Tư Vấn, trước sự hiện diện của Chưởng ấn giáo phủ.". (Can.404)
"Giám Mục Phó cũng như Giám Mục Phụ tá có mọi nghĩa vụ và quyền lợi được ấn định trong những điều luật sau đây và trong văn thư bổ nhiệm.
Giám Mục Phó và Giám Mục Phụ tá nói ở điều 403 triệt 2, giúp Giám Mục giáo phận trong mọi công việc quản trị Giáo phận và thay thế ngài lúc vắng mặt hoặc bị cản trở.". (Can.405)
"Giám Mục Phó, cũng như Giám Mục Phụ tá nói ở điều 403 triệt 2, phải được Giám Mục giáo phận đặt làm Tổng Đại Diện; ngoài ra, Giám Mục giáo phận phải ủy thác cho vị ấy trước các người khác tất cả những gì luật đòi hỏi sự ủy nhiệm đặc biệt.
Nếu văn thư Tòa Thánh không dự liệu thể khác, và vẫn tôn trọng qui tắc trên đây, Giám Mục giáo phận phải đặt vị phụ tá hoặc các phụ tá làm Tổng Đại Diện hoặc ít là làm Đại diện Giám Mục; và các ngài chỉ lệ thuộc quyền của Giám Mục giáo phận, hoặc Giám Mục Phó, hoặc Giám Mục Phụ tá nói ở điều 403 triệt 2.". (Can.406)
"Nhằm cổ võ thiện ích hiện tại và tương lai của giáo phận một cách tối đa, Giám Mục giáo phận, Giám Mục Phó và Giám Mục Phụ tá nói ở điều 403 triệt 2, phải bàn thảo với nhau trong những vấn đề có tầm quan trọng.
Khi giải quyết những vấn đề khá quan trọng, nhất là có tính cách mục vụ, Giám Mục giáo phận nên bàn thảo với các Giám Mục Phụ tá trước các người khác.
Giám Mục Phó và Giám Mục Phụ tá, xét vì được gọi để san sẻ nỗi lo âu với Giám Mục giáo phận, phải lo thi hành trách vụ của mình, để sao cho có sự hòa hợp với ngài trong hành động cũng như trong ý định.". (Can.407)
"Mỗi khi được Giám Mục giáo phận yêu cầu và nếu không bị cản trở chính đáng, Giám Mục Phó và Giám Mục Phụ tá có bổn phận cử hành nghi thức giáo chủ và các phận vụ khác thuộc bổn phận của Giám Mục giáo phận.
Giám Mục giáo phận không nên ủy thác cách thường xuyên cho một người khác những quyền lợi và phận vụ của chức Giám Mục mà Giám Mục Phó và Giám Mục Phụ tá có thể thi hành.". (Can.408)
"Giám Mục Phó và Giám Mục Phụ tá có bổn phận phải cư trú trong Giáo phận cũng như Giám Mục giáo phận; các ngài chỉ được rời giáo phận trong thời gian ngắn, trừ khi phải thi hành nhiệm vụ ngoài Giáo phận hoặc vì đi nghỉ, nhưng kỳ nghỉ không được quá một tháng.". (Can.410)
"Về sự từ chức, sẽ áp dụng cho Giám Mục Phó và Giám Mục Phụ tá các qui định của điều 401 và điều 402 triệt 2.". (Can.411)
56.- TRỐNG TÒA.
"Tòa Giám Mục trở nên trống hay khuyết vị vì sự mệnh một của Giám Mục giáo phận; vì sự từ chức đã được Đức Thánh Cha chấp nhận; vì sự thuyên chuyển hoặc cách chức được thông báo cho Giám Mục.". (Can.416)
"Trong khi Tòa Giám Mục trống ngôi thì Giám Mục Phó tức khắc trở thành Giám Mục của Giáo phận mà ngài đã được đặt, miễn là sự từ chức hợp lệ.
Trong khi Tòa Giám Mục trống ngôi, nếu nhà chức trách có thẩm quyền không ấn định thể khác, thì cho tới khi tân Giám Mục tựu chức, Giám Mục Phụ tá duy trì tất cả và chỉ những quyền hành và năng ân đã có như Tổng Đại Diện hoặc như Đại diện Giám Mục khi Giám Mục chính tòa cũng tại chức. Nếu sau đó không được bầu làm Giám quản giáo phận, thì Giám Mục Phụ tá hành sử quyền của mình do luật pháp đã trao, dưới quyền của Giám quản giáo phận và người ãnh đạo Giáo phận.". (Can.409)
"Kể từ khi trống tòa, việc quản trị Giáo phận, cho tới khi đặt được Giám quản giáo phận, được chuyển sang Giám Mục Phụ tá; nếu có nhiều Giám Mục Phụ tá thì vị nào cao niên hơn cả xét theo thứ tự được tiến cử; nhưng nếu không có Giám Mục Phụ tá, thì việc quản trị Giáo phận chuyển sang Hội Đồng Tư Vấn, trừ khi Tòa Thánh dự liệu thể khác. Ai đảm nhiệm việc quản trị Giáo phận như vậy thì lập tức phải triệu tập Hội Đồng có thẩm quyền để chỉ định Giám quản Giáo phận.". (Can.419)
"Khi Đại Diện Tông tòa hoặc Phủ Doãn Tông tòa trống tòa, nếu Tòa Thánh không định cách khác, thì việc quản trị sẽ thuộc vị Quyền Đại Diện hoặc Quyền Phủ Doãn do Đại Diện hoặc Phủ Doãn chỉ định để đảm nhận chức ấy, ngay sau khi đã tựu chức.". (Can.420)
"Trong khi trống tòa, thì không được đổi mới gì cả.
Cấm những ai đảm nhận việc quản trị tạm thời Giáo phận, không được làm bất cứ việc gì có thể gây tổn thiệt cho Giáo phận, hoặc cho các quyền lợi của Giáo phận, hoặc cho các quyền lợi của Giám Mục; đặc biệt cấm các vị đó và bất cứ ai khác nữa không được đích thân hay nhờ người khác lấy ra, tiêu hủy, sửa chữa bất cứ các tài liệu nào của Phủ Giáo phận.". (Can.428)
"Tất cả những hành vi mà Tổng Đại Diện hoặc Đại Diện Giám Mục đã làm, cho đến khi các ngài biết được tin chắc chắn Giám Mục giáo phận đã từ trần đều có giá trị; cũng vậy, tất cả những hành vi mà Giám Mục giáo phận hoặc Tổng Đại Diện hoặc Đại Diện Giám Mục đã làm, cho tới khi nhận được tin chắc chắn về văn thư Tòa Thánh như đã nói trên đều có giá trị.". (Can.417)
"Kể từ khi nhận được tin chắc chắn về sự thuyên chuyển, Giám Mục, trong vũng hai tháng, phải tới Giáo phận đã được chỉ định và tựu chức theo luật; nhưng Giáo phận cũ chỉ trở thành trống kể từ lúc Giám Mục tựu chức trong Giáo phận mới.
Kể từ lúc nhận được tin chắc chắn về sự thuyên chuyển cho tới khi tựu chức trong Giáo phận mới thì trong Giáo phận cũ, Giám Mục:
(1) Có quyền hành và có các nghĩa vụ tương đương như Giám quản giáo phận; mọi quyền hành của Tổng Đại Diện và Đại Diện Giám Mục chấm dứt, ngoại trừ qui định ở điều 409 triệt 2;
(2) Được hưởng trọn vẹn thù lao dành cho chức vụ.". (Can.418)
"Trong vũng tám ngày kể từ khi nhận được tin trống tòa, Hội Đồng Tư Vấn phải bầu một Giám quản Giáo phận, tức là người tạm thời quản trị Giáo phận, đừng kể qui định của điều 502 triệt 3.
Nếu vì bất cứ lý do nào Giám quản giáo phận chưa được bầu cử hợp lệ trong vũng thời gian đã ấn định, thì sự chỉ định Giám quản sẽ chuyển sang Tổng Giám Mục; nếu chính Tòa Tổng Giám Mục bị khuyết vị hay Tòa Tổng Giám Mục bị trống cùng một lúc với tòa thuộc hạt, thì việc chỉ định Giám quản thuộc quyền Giám Mục thuộc hạt cao niên nhất xét theo việc tiến cử.". (Can.421)
"Giám Mục Phụ tá, và nếu không có Giám Mục Phụ tá thì Hội Đồng Tư Vấn, phải lo thông báo cho Tòa Thánh sớm hết sức, biết tin Giám Mục đã từ trần; và ai đã được bầu làm Giám quản Giáo phận cũng phải thông tri sớm hết sức cho Tòa Thánh biết việc mình đã được bầu.". (Can.422)
57.- CẢN TÒA.
"Tòa Giám Mục bị cản khi vì lý do giam tù, quản thức, phát lưu, hay vô năng lực, Giám Mục giáo phận bị hoàn toàn ngăn cản thi hành nhiệm vụ mục vụ trong Giáo phận, đến nỗi không thể giao thiệp bằng thư từ với những người trong Giáo phận.". (Can.412)
"Khi Tòa Giám Mục bị cản, nếu Tòa Thánh không dự liệu thể khác, việc quản trị Giáo phận thuộc về Giám Mục Phó nếu có; nếu không có hoặc cũng bị cản trở, thì thuộc về một Giám Mục Phụ tá hoặc Tổng Đại Diện hoặc một Đại Diện Giám Mục hoặc một Linh mục nào khác, theo thứ tự được ấn định trong danh sách mà Giám Mục giáo phận đã lập liền ngay sau khi tựu chức; danh sách ấy phải báo cho Tổng Giám Mục và được duyệt lại ít nhất là từng ba năm một và được Chưởng ấn giữ kín.
Nếu không có Giám Mục Phó hay vị ấy bị ngăn trở, và không có danh sách nói ở triệt 1 trên đây, thì Hội Đồng Tư Vấn sẽ chọn một Linh mục để quản trị giáo phận.
Ai đã nhận quản trị Giáo phận theo những qui định nói trên, thì phải thông báo sớm hết sức cho Tòa Thánh biết là Tòa Giám Mục bị cản và mình đang đảm nhận trách vụ.". (Can.413)
"Bất cứ ai đã được gọi chiếu theo điều 413, để tạm thời đảm nhận việc chăm sóc mục vụ của Giáo phận trong thời gian cản tòa, thì phải giữ các nghĩa vụ và được hưởng mọi quyền hành mà luật dành cho Giám Quản Giáo phận.". (Can.414)
"Nếu vì một hình phạt Giáo luật, Giám Mục giáo phận bị ngăn trở thi hành chức vụ, thì Tổng Giám Mục hoặc nếu không có Tổng Giám Mục hoặc chính ngài bị phạt thì Giám Mục thuộc hạt cao niên hơn cả, phải lập tức trình lên Tòa Thánh để Tòa Thánh dự liệu.". (Can.415)
58.- GIÁM QUẢN GIÁO PHẬN.
"Chỉ được chỉ định một Giám quản Giáo phận mà thôi; mọi thói quen trái ngược đều phải bị bác bỏ; nếu không, sự chỉ định sẽ vô hiệu.
Giám quản Giáo phận không được kiêm nhiệm chức Quản Lý; vì thế, nếu Quản Lý được bầu làm Giám quản Giáo phận thì Hội Đồng kinh tế sẽ phải chọn một người khác làm Quản Lý tạm thời.". (Can.423)
"Giám quản giáo phận được bầu theo các điều 165-178.". . (Can.424)
"Để có thể được chỉ định hữu hiệu vào chức vụ Giám Quản Giáo phận, cần phải là tư tế nào đã đủ ba mươi lăm tuổi, và chưa bao giờ được bầu, được bổ nhiệm hoặc được đề cử cho chính tòa bị trống ấy.
Tư tế được chọn làm Giám Quản Giáo phận phải là người trổi vượt về đạo lý và khôn ngoan.
Nếu mọi điều kiện ấn định trên không được tôn trọng thì Tổng Giám Mục, hoặc nếu chính Tòa Tổng Giám Mục khuyết vị thì Giám Mục thuộc hạt cao niên hơn cả xét theo ngày tiến cử, sau khi đã kiểm chứng sự việc, sẽ chỉ định Giám quản cho lần đó. Những hành vi thực hiện do người đã được bầu lên trái ngược với qui định trên đây, đều vô hiệu do chính luật.". (Can 425)
"Trong thời gian trống tòa, trước khi Giám quản giáo phận được chỉ định, người nào quản trị Giáo phận thì có quyền hành mà luật dành cho Tổng Đại Diện.". (Can.426)
"Giám quản Giáo phận có mọi nghĩa vụ và quyền hành như Giám Mục giáo phận, ngoại trừ những gì xét theo bản tính sự việc hoặc chính luật pháp đã loại trừ.
Giám quản Giáo phận được hưởng quyền hành do việc đã ưng thuận sự bầu cử và không cần sự phê chuẩn của ai khác, nhưng phải giữ bổn phận nói ở điều 833,4.". (Can.427)
"Giám quản Giáo phận có nghĩa vụ cư trú trong Giáo phận và phải dâng Thánh lễ cầu cho dân, chiếu theo luật điều 388.". (Can.429)
"Nhiệm vụ Giám quản Giáo phận chấm dứt khi Tân Giám Mục tựu chức trong Giáo
phận.
Việc bãi chức Giám quản Giáo phận dành riêng cho Tòa Thánh; nếu muốn xin từ chức, thì chỉ cần bày tỏ ý định theo đứng thủ tục cho tập đoàn có thẩm quyền bầu cử và không cần được sự chấp nhận. Trong trường hợp Giám quản Giáo phận bị bãi chức, hoặc từ chức hoặc qua đời, thì sẽ bầu một vị Giám quản Giáo phận khác theo qui tắc của điều 421.". (Can.430)
59.- CÔNG ĐỒNG GIÁO TỈNH .
"Công Đồng Giáo Tỉnh và Tổng Giám Mục giữ quyền hành trong Giáo Tỉnh theo qui tắc luật định. (xem c.432)
"Công đồng tỉnh, dành cho các Giáo Hội địa phương thuộc cùng một Giáo tỉnh sẽ được nhóm họp khi đa số Giám Mục giáo phận trong Giáo tỉnh xét thấy là thuận lợi, đừng kể điều 439 triệt 2.".
Công đồng Giáo tỉnh sẽ không được triệu tập khi Tòa Tổng Giám Mục khuyết vị". (Can.440)
60.- CÔNG ĐỒNG MIỀN.
"Công đồng toàn miền, dành cho tất cả các Giáo Hội địa phương thuộc cùng một Hội Đồng Giám Mục, sẽ được nhóm họp mỗi khi chính Hội Đồng Giám Mục xét thấy cần và hữu ích, với sự phê chuẩn của Tòa Thánh.
Quy tắc trên đây cũng được áp dụng cho việc nhóm Công đồng tỉnh trong một Giáo tỉnh mà ranh giới trùng với lãnh thổ của quốc gia.". (Can.439)
"Hội Đồng Giám Mục có thẩm quyền
l. Triệu tập Công đồng toàn miền.
2. Định nơi nhóm họp Công đồng ở trong lãnh thổ thuộc Hội Đồng Giám Mục.
3. Bầu ra trong số các Giám Mục giáo phận vị chủ tọa Công đồng toàn miền. Vị này phải được Tòa Thánh phê chuẩn.
4. Ấn định điều lệ và các vấn đề cần được bàn thảo, tuyên bố ngày khai Hội và thời gian Hội, thuyên chuyển, triển hạn và bế mạc Công đồng.". (Can.441)
"Tổng Giám Mục, với sự đồng ý của phần lớn các Giám Mục thuộc hạt, có thẩm quyền:
l. Triệu tập Công đồng tỉnh.
2. Định nơi nhóm họp Công đồng tỉnh trong lãnh thổ Giáo tỉnh.
3. {n định điều lệ và các vấn đề cần được đem ra bàn thảo, tuyên bố ngày khai họp và thời gian họp Công đồng tỉnh, thuyên chuyển, triển hạn hoặc bế mạc Công đồng.
Tổng Giám Mục chủ tọa Công đồng tỉnh. Nếu bị ngăn trở hợp lệ, thì một Giám Mục thuộc hạt được các Giám Mục khác bầu ra sẽ chủ tọa.". (Can.442)
"Cần được triệu tập đến Công đồng địa phương và có quyền biểu quyết:
l. Các Giám Mục Giáo phận.
2. Các Giám Mục Phó và Phụ tá.
3. Các Giám Mục Hiệu tòa khác hiện đang thi hành chức vụ đặc biệt trong lãnh thổ đó, do ủy nhiệm của Tòa Thánh hoặc Hội Đồng Giám Mục.
Có thể được mời tới tham dự Công đồng địa phương tất cả các Giám Mục Hiệu tòa khác, kể cả các cựu Giám Mục hiện đang cư trú trong lãnh thổ, những vị này cũng có quyền biểu quyết.
Cần được triệu tập tới Công đồng địa phương nhưng chỉ với quyền tư vấn:
l. Các Tổng Đại Diện và các Đại Diện Giám Mục thuộc các Giáo Hội địa phương trong lãnh thổ.
2. Các Bề Trên Cao Cấp của các Dòng tu và các Tu đoàn Tông Đồ, theo số lượng, cả nam lện nữ, được Hội Đồng Giám Mục hoặc các Giám Mục của Giáo tỉnh ấn định; những người ấy được chọn bởi các Bề Trên Cao Cấp của các Dòng tu và các Tu đoàn hiện có trụ sở trong lãnh thổ.
3. Các Viện Trưởng của các Đại học của Giáo Hội và Đại học Công Giáo; cũng như các Khoa trưởng các phân khoa Thần Học và Giáo luật, hiện có cơ sở trong lãnh thổ.
4. Một vài Giám đốc các Đại chủng viện, theo số lượng được ấn định ở số 2 trên đây, được chọn bởi các Giám đốc Chủng viện tọa lạc trong lãnh thổ.
Có thể được mời tham dự các Công đồng địa phương, nhưng chỉ với quyền tư vấn mà thôi, cả các Linh mục và các tín hữu khác nữa; tuy nhiên, số lượng không được quá phân nửa những thành viên nói ở các phần trên đây.
Ngoài ra, cũng phải được mời dự Công đồng tỉnh, các kinh sĩ nhà thờ chính tòa cũng như Hội đồng Linh mục, và Hội đồng Mục vụ của từng Giáo Hội địa phương, nhưng mỗi định chế chỉ được gửi 2 đại biểu làm thành viên đã được bầu cử lên cách tập đoàn; những người này chỉ có quyền tư vấn mà thôi.
Nếu Hội Đồng Giám Mục, đối với Công đồng toàn miền, hoặc Tổng Giám Mục cùng với các Giám Mục thuộc hạt, đối với Công đồng tỉnh, xét thấy thuận lợi, thì có thể mời những người khác như là thượng khách tới các Công đồng địa phương.". (Can.443)
"Tất cả những ai đã được triệu tập tham dự Công đồng địa phương thì phải đến tham dự, trừ khi bị ngăn trở chính đáng, và phải báo cho vị chủ tọa Công đồng biết điều đó.
Những ai được triệu tập tham dự các Công đồng địa phương với quyền biểu quyết nếu bị ngăn trở chính đáng, có thể cử một đại diện; người đại diện chỉ có quyền tư vấn mà
thôi.". (Can.444)
"Công đồng địa phương phải lo dự liệu mọi nhu cầu mục vụ cho dân Chúa trong lãnh thổ của mình; Công đồng có quyền quản trị, nhất là quyền lập pháp, để có thể, trong khuôn khổ của luật phổ quát của Giáo Hội, quyết định tất cả những gì thuận lợi cho sự tăng gia Đức Tin, tổ chức hoạt động mục vụ chung, và điều hành mọi phong hóa và tuân hành, thiết lập hoặc bảo vệ kỷ luật chung của Giáo Hội.". (Can.445)
"Khi Công đồng địa phương đã bế mạc, vị chủ tọa phải lo chuyển đạt tất cả mọi văn kiện của Công đồng về Tòa Thánh; các nghị quyết của Công đồng chỉ được ban hành sau khi đã được Tòa Thánh duyệt y; chính Công đồng sẽ chỉ định cách thức ban hành các nghị quyết và thời gian mà các nghị quyết đã ban hành bắt đầu có hiệu lực bó buộc. ". (Can.446)
|