|
Cẩm nang Giáo Luật Thực Dụng :
Mục Lục
TẬP HAI: NHIỆM VỤ CAI QUẢN CỦA GIÁO Hội
Phần II : Cơ cấu của các Giáo Phận
CHƯƠNG III: TỔ CHỨC CỦA GIÁO PHỦ
61.- CÔNG NGHỊ GIÁO PHẬN.
A.- Định nghĩa Công nghị giáo phận:
"Công nghị giáo phận là một đại Hội đồng gồm các tư tế và các tín hữu ưu tuyển của một Giáo Hội địa phương với trách vụ giúp đỡ Giám Mục giáo phận trong việc mưu cầu thiện ích cho toàn thể cộng đoàn giáo phận, theo qui tắc đã ấn định". (Can.460)
Một cách đơn giản, có thể hiểu Công nghị giáo phận là một cách thức, qua đó, với sự trợ giúp của các tín hữu được tuyển chọn từ mọi thành phần trong giáo phận, Giám Mục giáo phận thể hiện chức vụ lập pháp của mình.
B.- Thẩm quyền của Giám Mục giáo phận:
"Công nghị giáo phận được nhóm họp trong mỗi Giáo Hội địa phương mỗi khi các hoàn cảnh đòi hỏi, theo sự thẩm định của Giám Mục giáo phận sau khi đã tham khảo ý kiến của Hội đồng Linh mục.
Nếu một Giám Mục phải coi sóc nhiều giáo phận, hoặc coi sóc một giáo phận như Giám Mục riêng của giáo phận đó, đồng thời coi sóc một giáo phận khác như Giám Quản, thì ngài có thể triệu tập một Công nghị cho tất cả các giáo phận đã được ủy thác.". (Can.461)
"Trong Công nghị giáo phận, Giám Mục là nhà lập pháp duy nhất, và các thành viên khác chỉ có quyền tư vấn. Duy có Giám Mục ký nhận mọi tuyên ngôn và mọi quyết nghị của Công nghị, và sẽ ban hành chúng với quyền hành của ngài.". (Can.466)
"Chỉ duy Giám Mục giáo phận mới có thể triệu tập Công nghị giáo phận; vị Quản trị lâm thời giáo phận không có quyền triệu tập.
Giám Mục giáo phận chủ tọa Công nghị giáo phận, tuy dầu ngài có thể ủy cho Tổng đại diện hoặc Đại diện Giám Mục chủ tọa từng phiên họp của Công nghị.". (Can.462)
"Giám Mục giáo phận, tùy theo sự thẩm định khôn ngoan của ngài, có thẩm quyền đình chỉ và giải tán Công nghị giáo phận.
Trong khi trống tòa hoặc cản tòa, Công nghị đương nhiên theo luật bị đình chỉ cho tới lúc Giám Mục giáo phận kế vị quyết định tiếp tục hoặc tuyên bố kết thức Công nghị.". (Can.468)
C.- Thành phần của Công nghị giáo phận:
"Những người phải được mời làm thành viên, và có nghĩa vụ phải tham dự Công nghị giáo phận là:
1. Giám Mục Phó và các Giám Mục Phụ tá;
2. Các Tổng Đại diện và Đại diện Giám Mục, cũng như Đại diện tư pháp;
3. Các Kinh sĩ của nhà thờ chính tòa;
4. Các thành viên của Hội đồng Linh mục;
5. Các giáo dân, kể cả các phần tử của các Hội Dòng tận hiến, được Hội đồng Mục vụ lựa chọn theo thể thức và số lượng do Giám Mục giáo phận ấn định; đâu không có Hội Đồng ấy, thì theo cách thức do Giám Mục giáo phận đã ấn định;
6. Giám Đốc Đại chủng viện giáo phận;
7. Các Cha quản hạt;
8. Ít là một Linh mục cho mỗi giáo hạt, được chọn do những người đang coi sóc phần linh hồn tại đó; ngoài ra, một Linh mục khác được lựa chọn để thay thế nếu chẳng may Linh mục kia bị ngăn trở.
9. Một vài Bề trên của các Dòng tu và của các Tu đoàn Tông đồ hiện đang có tu viện trong giáo phận; những người này được lựa chọn theo số lượng và thể thức do Giám Mục giáo phận ấn định.
Giám Mục giáo phận có thể mời làm thành viên của Công nghị giáo phận một số người khác, hoặc giáo sĩ hoặc những phần tử của các Hội dòng tận hiến hoặc giáo dân.
Nếu thấy thuận lợi, Giám Mục giáo phận có thể mời làm quan sát viên tại Công nghị một số các viên chức là phần tử của các Giáo Hội hoặc các Giáo đoàn không hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội Công Giáo.". (Can.463)
"Nếu một thành viên của Công nghị bị ngăn trở hợp lệ, thì không thể cử một người đại diện nhân danh mình tới tham dự; nhưng phải thông tri cho Giám Mục biết về ngăn trở đó.". (Can.464)
"Tất cả các vấn đề đã được đề xướng sẽ được các thành viên tự do bàn thảo trong các phiên họp của Công nghị.". (Can.465)
"Giám Mục giáo phận phải thông tri cho Tổng Giám Mục và cho Hội Đồng Giám Mục về những bản văn của các tuyên ngôn và các quyết nghị của công nghị.". (Can.467)
62.- PHỦ GIÁO PHẬN.
"Phủ giáo phận gồm các định chế và các nhân viên cộng tác với Giám Mục trong việc quản trị toàn thể giáo phận, nhất là việc điều khiển hoạt động mục vụ, việc trông nom về hành chánh của giáo phận cũng như việc hành sử quyền tư pháp.". (Can.469)
"Việc bổ nhiệm những người thi hành chức vụ trong phủ giáo phận là quyền của Giám Mục giáo phận.". (Can.470)
"Tất cả những người đã được thâu nhận vào các chức vụ trong giáo phủ cần phải:
1. Hứa trung thành chu toàn chức vụ, theo đứng phương thức do luật pháp hoặc Giám Mục đã ấn định;
2. Giữ bí mật trong mức định và và theo cách thức do luật pháp hoặc Giám Mục đã ấn định.". (Can.471)
"Đối với những vụ kiện và nhân viên trong giáo phủ có liên hệ tới việc hành sử quyền tư pháp, phải giữ mọi qui định của quyển VII về "Tố Tụng" , cũng những gì liên hệ tới công việc hành chánh của giáo phận, thì phải giữ đứng các qui định như những điều luật đã ấn định.". (Can.472)
GIÁM ĐỐC GIÁO PHỦ:
Chính Giám Mục giáo phận phải lo phối hợp công tác mục vụ giữa các vị đại diện, dù Tổng Đại diện hay Đại diện Giám Mục. Ở đâu thấy cần, có thể đặt một Giám đốc giáo phủ; người này phải là một tư tế, có trách vụ, dưới quyền của Giám Mục, phối hợp mọi công việc liên quan tới công tác hành chánh, cũng như lo cho tất cả các nhân viên giáo phủ hoàn tất chu đáo trách vụ đã ủy thác cho họ.
Nếu, theo thẩm định của Giám Mục, hoàn cảnh tại chỗ không đòi hỏi cách khác, thì Tổng Đại diện phải được bổ nhiệm là Giám đốc giáo phủ, hoặc nếu có nhiều Tổng Đại diện, thì một trong số các vị ấy sẽ giữ chức vụ Giám đốc giáo phủ.
Để xức tiến công tác mục vụ đắc hiệu hơn, nếu nhận xét thấy tiện, Giám Mục có thể thành lập Ủy Ban Tư Vấn Giám Mục, gồm các Tổng Đại diện và các Đại diện Giám Mục. (xem c.473)
"Tất cả mọi văn kiện của giáo phủ có tính cách pháp lý thì để được hữu hiệu cần được ký nhận bởi chính tác giả cũng như của Chưởng ấn hoặc Lục sự của giáo phủ; Chưởng ấn có bổn phận thông tri cho Giám đốc giáo phủ biết về các văn kiện ấy.". (Can.474)
63.- TỔNG ĐAI DIỆN VÀ ĐẠI DIỆN GIÁM MỤC
A.- Việc bổ nhiệm:
"Trong mỗi giáo phận, Giám Mục giáo phận nên đặt một Tổng Đại diện với quyền hành thông thường theo qui tắc của những điều luật đã ấn định, để giúp Giám Mục trong việc quản trị toàn giáo phận.
Theo luật chung, chỉ được đặt một Tổng Đại diện, trừ khi giáo phận rộng lớn hoặc số người cư ngụ đông đảo hoặc vì những lý do mục vụ khác đòi hỏi cách khác.". (Can.475)
"Khi nào thấy cần cho việc quản trị chính đáng của giáo phận, Giám Mục giáo phận cũng có thể đặt một hoặc nhiều Đại diện Giám Mục cho mỗi khu vực nhất định của giáo phận, hoặc cho một số công việc nhất định, hoặc cho một số giáo hữu thuộc một lễ điển, hoặc đối với một nhóm người nhất định nào đó. Các Đại diện Giám Mục được quyền hành thông thường mà luật phổ quát dành cho Tổng Đại diện, theo các qui tắc đã được ấn định.". (Can.476)
"Giám Mục giáo phận tự do bổ nhiệm Tổng Đại diện và Đại diện Giám Mục, và cũng có thể bãi chức họ, miễn là tôn trọng các qui tắc của điều luật 406; Đại diện Giám Mục, nếu không phải là Giám Mục phụ tá, chỉ được bổ nhiệm có hạn kỳ được định rõ trong bổ nhiệm thư. Khi Tổng Đại diện vắng mặt hoặc bị ngăn trở hợp lệ, Giám Mục giáo phận có thể bổ nhiệm một vị khác thay thế; qui tắc đó cũng được áp dụng cho Đại diện Giám Mục.". (Can.477)
B.- Điều kiện để được bổ nhiệm:
"Tổng Đại diện và Đại diện Giám Mục phải là những tư tế không dưới ba mươi tuổi, có bằng tiến sĩ hoặc cử nhân Giáo luật hay thần học hoặc ít là thực sự thành thạo các môn đó, trổi vượt vì đạo lý lành mạnh, đức độ, khôn ngoan và từng trải khi xử sự công việc.
Chức vụ Tổng Đại diện và Đại diện Giám Mục không thể kiêm nhiệm chức vụ kinh sĩ xá giải; và cũng không thể ủy thác người cùng huyết tộc với Giám Mục cho tới cấp thứ bốn.". (Can.478)
"Tổng Đại diện chiếu theo chức vụ, trong toàn giáo phận có quyền hành pháp mà luật dành cho Giám Mục giáo phận, để thực hiện bất cứ mọi công việc hành chánh nào, chỉ trừ những công việc mà Giám Mục giáo phận đã dành riêng hoặc những công việc mà luật đòi phải có ủy nhiệm đặc biệt của Giám Mục.
C.- Quyền hành của Tổng Đại diện và Đại diện Giám Mục:
Đại diện Giám Mục đương nhiên theo luật, cũng có quyền hạn này, nhưng chỉ trong lãnh vực giới hạn lãnh thổ hoặc số loại công việc hoặc số giáo hữu thuộc lễ điển hoặc đoàn nhóm nhất định mà Đại diện Giám Mục đã được đặt lên, trừ những việc gì Giám Mục đã dành riêng cho ngài hoặc cho Tổng Đại diện, hoặc những gì mà luật đòi cần phải có ủy nhiệm đặc biệt của Giám Mục.
Tổng Đại diện và Đại diện Giám Mục, trong phạm vi thuộc thẩm quyền của mình, cũng được hưởng các năng ân thường lệ mà Tòa Thánh ban cho Giám Mục, cũng như việc thi hành các Phúc nghị, trừ khi có qui định minh thị cách khác hoặc Giám Mục giáo phận đã được chọn vì tài cán cá nhân.". (Can.479)
"Tổng Đại diện và Đại diện Giám Mục phải tường trình cho Giám Mục giáo phận về những hoạt động quan trọng phải làm và đã làm, và không bao giờ được hành động trái với ý muốn và chủ đích của Giám Mục giáo phận.". (Can.480)
D.- Chấm dứt nhiệm vụ:
"Quyền hành của Tổng Đại diện và của Đại diện Giám Mục chấm dứt khi sự ủy nhiệm đã mãn hạn, do sự từ chức, và, đừng kể qui định của các điều luật 406 và 409,
(*) do sự bãi chức được Giám Mục giáo phận thông tri, và khi Tòa Giám Mục khuyết vị.
(*) Giám Mục Phó hay Giám Mục Phụ Tá phải được bổ nhiệm làm Tổng Đại diện. (c.406); Khi Tòa Giám Mục trống ngôi, Giám Mục Phó tức khắc trở thành Giám Mục giáo phận. (c.409).
Nếu Giám Mục giáo phận bị huyền chức, thì quyền hành của Tổng Đại diện và của Đại diện Giám Mục cũng bị đình chỉ, nếu họ không có chức Giám Mục.". (Can.481)
64.- CHƯỞNG ẤN VÀ LỤC SỰ
A.- CHƯỞNG ẤN:
"Trong bất cứ giáo phủ nào cũng phải đặt một Chưởng ấn mà chức vụ chính yếu, nếu luật địa phương không ấn định cách nào khác, là lo thảo và gửi các văn kiện của giáo phủ, và lưu giữ tất cả mọi văn kiện trong văn khố của giáo phủ.
Nếu thấy cần, có thể đặt một người phụ tá cho Chưởng ấn, với danh nghĩa là Phó Chưởng ấn.
Chưởng ấn và Phó Chưởng ấn đương nhiên làm lục sự và thư ký của giáo phủ.". (Can.482)
Chưởng ấn có thể là một tư tế, cũng có thể là một giáo dân.
B.- LỤC SỰ
"Ngoài Chưởng ấn ra còn có thể đặt nhiều Lục sự khác nữa, mà chữ viết hoặc chữ ký của họ có giá trị xác thực công chúng; họ có thể được đặt hoặc cho bất cứ mọi công việc hoặc chỉ cho những công việc về tòa án, hoặc chỉ lo về án từ của một vụ kiện hay một công chuyện nhất định.
Lục sự có thể là một tư tế, cũng có thể là một giáo dân
C.- NHIỆM VỤ
Chưởng ấn và các Lục sự phải là những người có tiếng tốt và không có gì bị nghi ngờ; trong những vụ kiện có thể liên hệ tới thanh danh của một tư tế, thì Lục sự phải là một tư tế.". (Can.483)
"Trách vụ của các Lục sự là:
1. Biên soạn các chứng thư và văn kiện liên quan tới các nghị định, các quyết nghị, mọi nghĩa vụ hoặc tất cả những vấn đề nào khác cần đến sự can thiệp của họ;
2. Ghi chú cách trung thực tất cả mọi thủ tục đang tiến hành, và ký nhận cùng ghi rõ nơi, ngày, tháng và năm;
3. Dựa theo các qui tắc luật định, trưng bày các chứng thư và văn kiện Chúa trong các sổ bộ cho những người yêu cầu cách hợp lệ, và thị thực các bản sao với việc tuyên bố sao y nguyên bản.". (Can.484)
"Giám Mục giáo phận có thể tự do bãi chức Chưởng ấn và các Lục sự; nhưng Giám quản giáo phận không có quyền ấy nếu không có sự đồng ý của Hội Đồng Tư vấn.". (Can.485)
65.- VĂN KHỐ TẠI GIÁO PHỦ.
A.- VĂN KHỐ GIÁO PHẬN:
"Tất cả mọi tài liệu liên hệ tới giáo phận hoặc tới các giáo xứ, cần phải được lưu trữ hết sức cẩn thận.
Trong mỗi giáo phủ cần phải lập một Văn Khố giáo phận tại nơi an toàn để lưu giữ mọi văn kiện và giấy tờ liên quan đến mọi công chuyện thiêng liêng hoặc thế sự của giáo phận, được sắp xếp cho có thứ tự rõ ràng và gìn giữ cẩn thận.
Cần phải lập một bản kê khai hay mục lục tất cả mọi tài liệu giữ trong Văn Khố với bản tóm tắt về từng tờ một.". (Can.486)
"Văn Khố phải được khóa, và chỉ có Giám Mục và Chưởng ấn giữ chìa khóa; không ai được phép vào nếu không có phép của Giám Mục hoặc của Giám đốc giáo phủ cùng với Chưởng ấn.
Mọi người có quan thiết tới các tài liệu, tự bản tính đã trở thành công khai và có liên can tới tình trạng cá nhân của mình đều có quyền tự mình hoặc nhờ đại diện xin trích lục công chúng một bản tài liệu ấy, hoặc viết, hoặc chụp.". (Can.487)
"Không được phép lấy các tài liệu ra khỏi Văn Khố, đừng kể trong thời gian ngắn và có sự đồng ý của Giám Mục hoặc của Giám đốc giáo phủ cùng với Chưởng ấn.". (Can.488)
Việc lui tới, ra vào Văn Khố hay lấy tài liệu ra khỏi Văn Khố dù trong một thời gian rất ngắn chỉ được thực hiện khi có phép của hoặc một mình Giám Mục, hoặc nếu không có phép của Giám Mục thì phải có phép cùng lúc của hai người: Chưởng ấn và Giám đốc giáo phủ.
B.- VĂN KHỐ MẬT.
"Trong phủ giáo phận cũng phải có một Văn khố mật, hoặc ít ra là trong Văn Khố chung có một tủ hoặc hòm khóa kỹ lưỡng và không thể xê dịch; trong đó phải giữ gìn hết sức cẩn thận những tài liệu cần được giữ bí mật.
Hằng năm phải hủy bỏ tài liệu về những vụ kiện hình sự liên can đến phong hóa mà can phạm đã chết rồi; hoặc vụ kiện đã kết liễu sau khi án văn đã tuyên bố được mười năm; chỉ cần lưu lại bản tóm tắt sự kiện cùng với bản án chung quyết.". (Can.489)
"Chỉ một mình Giám Mục giữ chìa khóa Văn Khố mật.
Trong khi trống tòa, không được mở Văn Khố hoặc tủ mật, trừ trường hợp thực sự cần thiết, và do chính Giám quản giáo phận đích thân mở.
Không được phép lấy các tài liệu ra khỏi Văn Khố hoặc tủ mật.". (Can.490)
66 .- CÁC LOẠI VĂN KHỐ KHÁC.
"Giám Mục giáo phận phải lo liệu để các Văn thư và tài liệu được gìn giữ cẩn thận trong các Văn Khố của các nhà thờ chính tòa, của các hợp đoàn, của các giáo xứ và của tất cả các nhà thờ khác hiện có trong lãnh thổ mình; và liệu sao để có tờ kê khai mục lục hoặc tổng mục được lập làm hai bản, một bản giữ trong Văn Khố riêng, và bản kia giữ tại Văn Khố giáo phận. (Văn Khố giáo phủ)
Giám Mục cũng phải lo liệu để trong giáo phận có một Văn Khố lịch sử trong đó gìn giữ và sắp xếp có hệ thống mạch lạc các tài liệu có giá trị về lịch sử.
Để tham khảo hoặc mang ra khỏi Văn Khố mọi văn thư và mọi tài liệu nói trên, cần phải tuân giữ các qui tắc do Giám Mục giáo phận đã ấn định.". (Can.491)
67.- HỘI ĐỒNG KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ.
"Trong mỗi giáo phận phải thiết lập một Hội Đồng Kinh tế, do chính Giám Mục giáo phận hoặc một người được ủy nhiệm làm chủ tịch và gồm ít nhất là ba tín hữu do Giám Mục bổ nhiệm; cần phải là những người thành thạo về kinh tài và về dân luật, và thanh liêm. Các thành viên của Hội Đồng kinh tế được bổ nhiệm với thời hạn là năm năm, nhưng khi đã mãn hạn, họ cũn có thể tái bổ nhiệm năm năm nữa.
Không được nhận vào Hội Đồng kinh tế những người có họ hàng với Giám Mục do huyết tộc hoặc hôn thuộc tới cấp thứ tư.". (Can.492)
Thành viên của Hội Đồng kinh tế có thể là giáo sĩ, đồng thời cũng có thể là giáo dân.
"Ngoài những nhiệm vụ đã ủy thác cho chính Hội Đồng nói tới ở quyển V về "Tài sản của Giáo Hội" , Hội Đồng kinh tế còn có trách vụ hằng năm, theo chỉ thị của Giám Mục giáo phận, thảo ngân sách dự thu và dự chi trù liệu cho việc điều hành tổng quát của giáo phận trong năm tới, và phê chuẩn số chi thu của năm cũ.". (Can.493)
"Trong mỗi giáo phận, sau khi đã tham khảo ý kiến với Hội Đồng Tư vấn và Hội Đồng kinh tế, Giám Mục phải bổ nhiệm một quản lý; vị này phải thực là thành thạo về kinh tài và mức độ ngay thẳng.
Quản lý được bổ nhiệm với hạn kỳ năm năm, nhưng khi mãn hạn có thể được bổ nhiệm thêm năm năm nữa, Giám Mục không thể bãi chức quản lý trong thời gian tại chức nếu không có lý do nào hệ trọng, sau khi đã bàn thảo ý kiến với Hội Đồng Tư Vấn và Hội Đồng kinh tế.
Quản lý có trách vụ theo thể thức Hội Đồng kinh tế ấn định, quản trị dưới quyền của Giám Mục, mọi tài sản của giáo phận, và dựa trên lợi tức thu hoạch được của giáo phận, thi hành những chi tiêu theo lệnh hợp lệ của Giám Mục hoặc của những người khác được Giám Mục ủy thác.
Hàng năm, Quản lý phải tường trình cho Hội Đồng kinh tế về số thu và số chi.". (Can.494)
68.- HỘI ĐỒNG LINH MỤC.
"Trong mỗi giáo phận, cần phải thành lập một Hội Đồng Linh mục, tức là một đoàn thể các Linh mục đại diện cho Linh mục đoàn, với nhiệm vụ tựa như nghị viện của Giám Mục; Hội Đồng Linh mục có trách vụ giúp Giám Mục trong việc cai quản giáo phận theo qui tắc luật định, để thiện ích mục vụ của phần dân Chúa đã ủy thác được thăng tiến bằng đường lối đắc hiệu nhất.
Trong những Hạt Đại Diện và Phủ Doãn Tông tòa, thì vị Đại Diện hoặc Phủ Doãn phải lập một Hội Đồng ít nhất là gồm ba Linh mục truyền giáo. để bàn hỏi với họ, kể cả bằng thư từ, trong những công việc hệ trọng.". (Can.495)
"Hội Đồng Linh mục cần có nội qui riêng được Giám Mục giáo phận phê chuẩn, dựa theo những qui tắc do Hội Đồng Giám Mục đã ra.". (Can.496)
A.- THàNH PHẦN HỘI ĐỒNG LINH MỤC:
"Về việc chỉ định thành phần Hội Đồng Linh Mục.
- Chừng độ một nửa thành viên được chọn do chính các tư tế tự do chọn lựa, theo qui tắc của những điều luật trong mục này và của nội qui;
- Một vài tư tế, theo qui tắc của nội qui, phải là những thành viên đương nhiên (ex officio) , tức là họ thuộc về Hội Đồng chiếu theo trách vụ đã ủy thác cho họ;
Giám Mục giáo phận có quyền tự do bổ nhiệm một số những người khác.". (Can.497)
"Để thành lập Hội Đồng Linh mục, những người sau đây có quyền bầu cử và ứng cử:
1. Tất cả các tư tế triều đã nhập tịch trong giáo phận;
2. Các tư tế triều không nhập tịch trong giáo phận, cũng như các tư tế là phần tử của các dòng tu hoặc của các Tu Đoàn tông đồ cư ngụ trong giáo phận và đang thi hành chức vụ nào đó vì thiện ích của giáo phận.
Tùy theo nội qui dự liệu, quyền bầu cử và ứng cử có thể được cấp cho tất cả các tư tế khác có cư sở hoặc bán cư sở trong giáo phận.". (Can.498)
"Nội qui phải xác định phương thức lựa chọn các thành viên của Hội Đồng Linh mục, làm sao cho các tư tế của Linh mục đoàn được đại diện xét theo các tác vụ khác nhau và các vùng khác nhau trong giáo phận.". (Can.499)
B.- QUYỀN HẠN CỦA HỘI ĐỒNG LINH MỤC
"Giám Mục giáo phận có quyền triệu tập Hội Đồng Linh mục, chủ tọa và chỉ định những vấn đề sẽ bàn thảo trong Hội Đồng, hoặc chấp nhận các đề nghị của các thành viên.
Hội Đồng Linh mục chỉ có quyền tư vấn; Giám Mục giáo phận phải hỏi ý kiến của Hội Đồng trong những việc có tầm hệ trọng, nhưng chỉ cần sự đồng ý của họ trong những trường hợp nào luật ấn định minh thị.
Hội Đồng Linh mục không bao giờ có thể tiến hành mà không có Giám Mục giáo phận; chỉ mình ngài có trách nhiệm lo công bố những gì đã được ấn định.". (Can.500)
"Các thành viên của Hội Đồng Linh mục được chỉ định với hạn kỳ được ấn định trong nội qui, nhưng phải làm sao để trong vũng năm năm, toàn thể hoặc một phần của Hội Đồng được đổi mới.
Khi tòa Giám Mục khuyết vị, thì Hội Đồng Linh mục cũng ngưng; mọi nhiệm vụ của Hội Đồng sẽ do Hội Đồng Tư Vấn đảm nhiệm; trong vũng một năm kể từ ngày tựu chức, Giám Mục phải lo thành lập lại Hội Đồng Linh mục.
Nếu Hội Đồng Linh mục không chu toàn nhiệm vụ đã được ủy thác vì thiện ích của giáo phận hoặc lạm dụng trầm trọng nhiệm vụ của mình thì Giám Mục giáo phận có thể giải tán Hội Đồng, sau khi đã tham khảo ý kiến của Tổng Giám Mục, hoặc nếu xảy ra tại giáo phận của Tổng Giám Mục, thì tham khảo Giám Mục thuộc hạt cao niên nhất xét theo ngày tiến cử; nhưng trong vũng một năm phải thành lập lại Hội Đồng.". (Can.501)
69.- HỘI ĐỒNG TƯ VẤN.
"Trong các thành viên của Hội Đồng Linh mục, Giám Mục được tự do lựa chọn một vài tư tế, với con số không dưới sáu và không quá mười hai, hợp thành Hội Đồng Tư vấn với nhiệm kỳ năm năm, với những trách vụ do luật ấn định; tuy nhiên, khi đã hết nhiệm kỳ năm năm, Hội Đồng vẫn cứ tiếp tục thi hành mọi trách vụ cho tới khi thành lập Hội Đồng mới.
Hội Đồng Tư vấn do Giám Mục giáo phận chủ tọa, nhưng khi cản tòa hoặc trống tòa, thì vị chủ tịch Hội Đồng Tư vấn là người tạm thời thay thế Giám Mục, nếu chưa đặt được người chủ tịch, thì Linh mục cao niên nhất trong Hội Đồng xét theo ngày chịu chức sẽ thay thế.
Hội Đồng Giám Mục có thể ấn định ủy thác cho Kinh sĩ đoàn nhà thờ chính tòa các nhiệm vụ của Hội Đồng Tư vấn.
Trong các Hạt Đại Diện và Phủ Doãn Tông tòa, các nhiệm vụ của Hội Đồng Tư vấn sẽ thuộc về Hội Đồng Truyền giáo nói ở điều 495 triệt 2, (*) trừ khi luật đã ấn định cách khác.". (Can.502)
(*) "Trong những Hạt Đại Diện và Phủ Doãn Tông tòa, thì vị Đại Diện hoặc Phủ Doãn phải lập một Hội Đồng ít nhất là gồm ba Linh mục truyền giáo. để bàn hỏi với họ, kể cả bằng thư từ, trong những công việc hệ trọng.". (Can.495,2)
70.- HỘI KINH SĨ
"Các Hội Kinh sĩ hoặc ở các nhà thờ chính tòa hay ở các hợp đoàn khác là một tập đoàn gồm các tư tế chuyên cần lo các nghi lễ phụng vụ trọng thể hơn trong nhà thờ chính tòa hoặc nhà thờ hợp đoàn; ngoài ra, Hội Kinh sĩ nhà thờ chính tòa còn chu tất những nhiệm vụ mà luật hoặc Giám Mục giáo phận đã ủy thác.". (Can.503)
"Việc thành lập, canh tân hoặc giải tán Hội Kinh sĩ nhà thờ chính tòa dành riêng cho Tòa Thánh.". (Can.504)
"Mỗi Hội Kinh sĩ dù thuộc nhà thờ chính tòa hay thuộc nhà thờ hợp đoàn đều phải có nội qui riêng, được soạn thảo qua một hành vi hợp lệ của toàn Hội và được Giám Mục giáo phận phê chuẩn. Nội qui đó không được thay đổi hoặc bãi bỏ nếu không có sự phê chuẩn của chính Giám Mục giáo phận.". (Can.505)
"Nội qui của Kinh sĩ Hội, tuy phải luôn luôn tôn trọng các luật thành lập, cần ấn định cơ cấu của Hội và số các Kinh sĩ; xác định bổn phận của Hội và của từng Kinh sĩ đối với việc phụng tự Thiên Chúa và việc thi hành tác vụ; ấn định các phiên họp để bàn thảo về các công việc liên hệ tới Hội, và trong khuôn khổ của những qui định của luật phổ quát, ấn định những điều kiện cần có để các hành vi được hữu hiệu và hợp pháp.
Trong nội qui cũng cần xác định về lương bổng phải trả, hoặc cố định hoặc vào dịp thi hành một nhiệm vụ, cũng như huy hiệu của các Kinh sĩ dựa theo các qui tắc Tòa Thánh đã ấn định.". (Can.506)
"Trong Hội Kinh sĩ cần có một người làm chủ tịch; các chức vụ khác cần được chỉ định chiếu theo qui tắc của nội qui và tập tục thịnh hành ở địa phương.
Các giáo sĩ không thuộc về Hội, cũng có thể được ủy thác cho những chức vụ khác; nhờ đó, họ giúp đỡ các Kinh sĩ theo qui tắc của nội qui.". (Can.507)
"Sau khi đã tham khảo ý kiến của Hội Kinh sĩ, Giám Mục giáo phận, chứ không phải Giám quản giáo phận, bổ nhiệm tất cả và từng Kinh sĩ hoặc trong nhà thờ chính tòa hoặc trong nhà thờ hợp đoàn; mọi đặc ân trái ngược đều bị thu hồi.
Việc phê chuẩn người đã được Hội bầu là chủ tịch cũng thuộc thẩm quyền của Giám Mục.
Giám Mục giáo phận chỉ nên bổ nhiệm là Kinh sĩ những tư tế nào trổi vượt về đạo lý và đời sống đứng đắn, và đã thi hành tác vụ tư tế cách hoàn hảo.". (Can.509)
"Các giáo xứ sẽ không còn được liên kết với Hội Kinh sĩ nữa; những giáo xứ nào đã liên kết với Kinh sĩ Hội thì phải được Giám Mục giáo phận tách rời ra.
Trong thánh đường vừa thuộc về giáo xứ vừa thuộc Hội Kinh sĩ thì phải chỉ định một Cha sở, có thể được chọn trong số các Kinh sĩ hoặc có thể không; Cha sở ấy có tất cả mọi trách vụ, quyền lợi và năng ân mà các qui tắc của luật đã dành cho Cha sở.
Giám Mục giáo phận sẽ ấn định các qui tắc, nhờ đó, các công việc mục vụ của Cha sở và những nhiệm vụ riêng của Kinh sĩ Hội được dung hòa cách xứng hợp; tránh đừng để Cha sở có thể làm trở ngại công việc của Kinh sĩ Hội và Kinh sĩ Hội làm trở ngại công việc của Cha sở; nếu xảy ra tranh chấp, thì Giám Mục giáo phận phải phân giải; nhưng tiên vàn ngài phải lo sao để các nhu cầu mục vụ của các tín hữu được trù liệu thỏa đáng.
Các thứ dâng cứng cho một nhà thờ vừa thuộc giáo xứ vừa thuộc Hội Kinh sĩ được suy đoán là dâng cho giáo xứ, trừ khi đã rõ cách khác.". (Can.510)
71.- KINH SĨ XÁ GIẢI.
"Kinh sĩ xá giải hoặc tại nhà thờ chính toà hoặc tại nhà thờ hợp đoàn, chiếu theo chức vụ, có quyền thông thường để giải trong tòa bí tích các vạ "tiền kết" chưa tuyên bố và không dành riêng cho Tòa Thánh; quyền này không thể được ủy nhiệm, nhưng có thể hành sử đối với những người trong giáo phận tuy không là thuộc dân của giáo phận, và đối với cả những người thuộc dân của giáo phận nhưng ở ngoài lãnh thổ của giáo phận.
Ở đâu không có Hội Kinh sĩ, thì Giám Mục giáo phận sẽ đặt một tư tế để giữ nhiệm vụ đó.". (Can.508)
Giám Mục giáo phận, Giám Mục Phó và Giám Mục Phụ tá hay tất cả các Giám Mục đều có năng quyền thông thường để giải trong tòa Bí tích các loại vạ này (1. giải trong tòa trong; 2. vạ tiền kết chưa tuyên bố và 3. không dành riêng cho Tòa Thánh) (in foro sacramentali a censuris latae sententiae non declaratis, Apostolicae Sedi non reservatis) . Tuy nhiên, Giám Mục giáo phận phải chỉ định một Linh mục làm Kinh sĩ xá giải hay trong trường hợp đặc biệt, Giám Mục giáo phận có thể ủy nhiệm năng quyền xá giải này cho tất cả các Linh mục trong giáo phận. (xem c.1355,2)
72.- HỘI ĐỒNG MỤC VỤ
"Trong mỗi giáo phận, tùy theo hoàn cảnh mục vụ thức dục, nên thành lập Hội Đồng Mục vụ, dưới quyền của Giám Mục, với trách vụ lo nghiên cứu, cân nhắc và đề ra các kết luận thực tiễn về tất cả những gì liên quan tới hoạt động mục vụ trong giáo phận.". (Can.511)
"Hội Đồng Mục vụ gồm có các tín hữu đang thông hiệp trọn vẹn với Giáo Hội Công Giáo, hoặc các giáo sĩ hoặc các phần tử các dòng tu và nhất là giáo dân; tất cả đều được chỉ định theo cách thức do Giám Mục giáo phận ấn định.
Các tín hữu nào được đề cử vào Hội Đồng Mục vụ, cần được lựa chọn cách nào để có thể phản ảnh được phần dân Chúa kết hợp thành giáo phận, dựa vào các khu vực khác nhau của giáo phận, các điều kiện xã Hội và nghề nghiệp, và cả tới các phần vụ mà các tín hữu đã đóng góp trong hoạt động tông đồ hoặc với tư cách cá nhân hoặc liên hiệp với những người khác.
Chỉ nên cử vào Hội Đồng Mục vụ những tín hữu trổi vượt về Đức tin vững vàng, hạnh kiểm tốt và khôn ngoan.". (Can.512)
"Hội Đồng Mục vụ được thành lập với một hạn kỳ nhất định, theo các qui định của nội qui được Giám Mục ban hành.
Khi Tòa Giám Mục khuyết vị, thì trách nhiệm của Hội Đồng Mục vụ cũng chấm dứt.". (Can.513)
"Chỉ có Giám Mục giáo phận, tùy theo nhu cầu tông đồ, có quyền triệu tập và chủ tọa Hội Đồng Mục vụ; cũng chỉ duy có một mình Giám Mục giáo phận có quyền công bố tất cả những gì đã được bàn thảo trong Hội Đồng. Hội Đồng Mục vụ chỉ có quyền tư vấn.
Hội Đồng Mục vụ phải được triệu tập ít là mỗi năm một lần.". (Can.514)
|