|
Cẩm nang Giáo Luật Thực Dụng :
Mục Lục
TẬP BỐN: NHIỆM VỤ THÁNH HÓA CỦA GIÁO Hội
CHƯƠNG VII : BÍ TÍCH HÔN PHỐI
MỤC 5 : SỰ ƯNG THUẬN KẾT HÔN.
248.- SỰ ƯNG THUẬN.
"Hôn phối thành tựu do sự ưng thuận của đôi bên, được phát biểu hợp lệ giữa những người có khả năng luật định; sự ưng thuận này không thể được thay thế bởi bất cứ một thế lực nào khác.
Sự ưng thuận kết hôn là một hành vi của ý chí, do đó người nam và người nữ trao thân cho nhau và chấp nhận nhau để tạo lập hôn phối bằng một giao ước không thể thu hồi lại.". (Can.1057)
Sự ưng thuận này khi được chính thức biểu lộ là một hành vi pháp lý, tạo nên một ràng buộc giữa hai người với tất cả những hiệu quả tất nhiên, ẩn tàng trong đời sống của đôi hôn nhân. Tất cả những yếu tố khác như không bị ngăn trở, phải được cử hành theo thể thức luật định, cũng vẫn chỉ là những yếu tố "phụ" so với sự ưng thuận. Vì dù những yếu tố này có thể cản trở trong việc thành sự của Bí tích, nhưng chúng có thể được miễn chuẩn hay bãi bỏ. Việc ưng thuận trong tự do và được biểu lộ cách hiển hiện, là điều cần thiết và phải được thực hiện giữa hai người trong hôn lễ.
Tuy nhiên, cũng cần lưu ý thêm là sự ưng thuận này phải có tính cách hỗ tương, nghĩa là khi sự ưng thuận được tỏ bày thì cũng có sự chấp nhận của một người khác liên hệ. (xem thêm số 210)
249.- THIẾU KHẢ NĂNG ƯNG THUẬN.
"Những người sau đây không có khả năng kết hôn:
(1) Những người thiếu khả năng xử dụng trí khôn một cách vừa phải.
(2) Những người thiếu sót trầm trọng trong việc nhận định về những quyền lợi và bổn phận thiết yếu của việc trao ban và đón nhận trong hôn nhân.
(3) Những người, vì lý do tâm lý, không thể đảm nhận những nghĩa vụ thiết yếu của hôn nhân. (Can.1095)
Những người bị bệnh tinh thần, thiếu khả năng suy nghĩ, không thể ưng thuận hay không ưng thuận kết hôn được.
Những người sau đây được coi là thiếu khả năng suy nghĩ:
- Các nhi đồng chưa đến tuổi khôn. (xem c.97,2)
- Những người bị khiếm tật bẩm sinh hay bị một tai nạn ảnh hưởng trên trí khôn, những người này trong nhiều trường hợp được đồng hóa với nhi đồng. (xem c.99)
Những ai trở nên mất trí do bất cứ một lý do nào đó, không thể kết hôn cách hữu hiệu được. (xem c.1105,4).
Trong những vụ kiện về sự thiếu ưng thuận liên can đến bệnh tinh thần, thẩm phán phải nhờ đến một hay nhiều giám định viên, trừ khi hoàn cảnh cho thấy rõ là không cần thiết. (xem c.1680)
Các chủ sự về hôn phối nên cẩn thận trong những trường hợp này.
250.- HIỂU BIẾT VỀ Ý NGHĨ CỦA HÔN PHỐI.
"Để có sự ưng thuận kết hôn, điều cần thiết là hai người kết hôn phải ít là biết rằng: Hôn nhân là đời sống chung vĩnh viễn giữa người nam và người nữ, nhằm đến việc sinh sản con cái bằng việc giao hợp sinh lý cách nào đó. Sau tuổi dậy thì, phải suy đoán là họ đã biết những điều đó rồi.". (Can.1096).
Khác với người không có khả năng để hiểu, người không hiểu về ý nghĩa của hôn phối là người vô tình, vô tâm không tìm hiểu, không để ý đến vấn đề. Giáo luật cho rằng một hôn phối chỉ thành sự và hợp pháp khi hai người đều có kiến thức tối thiểu về ý nghĩa và cách sống vợ chồng. Như thế, một hôn phối có thể được tuyên bố hủy bỏ hay vô hiệu hóa, khi hai người hay một trong hai người không biết gì về vấn đề vợ chồng dù là do vô tâm.
Ngày 23-12-1932, Tòa Xá Giải Rôma (Roman Rota) đã phán quyết: "Để một giao ước hôn phối thành sự, hai người liên hệ phải hoàn toàn tự do và ý thức trong việc xử dụng lý trí và ý chí, hiểu biết về bản tính tự nhiên của đời sống vợ chồng qua giao ước hôn phối, ước ao chấp nhận và được chấp nhận như vậy." (Roman Rota, Vol.24, 12/1929, n.2).
Qua án lệ này, ta thấy không những vai trò của lý trí (hiểu biết về ý nghĩa của đời sống hôn nhân) cần thiết, mà ngay cả vai trò của ý chí (muốn chấp nhận và được chấp nhận) cũng quan trọng không kém.
Để sự bày tỏ ưng thuận được hữu hiệu, những người liên hệ phải có một kiến thức tối thiểu về bản tính tự nhiên của hôn phối, kiến thức tối thiểu này được qui định như sau:
1. Hôn phối là một giao ước vĩnh viễn giữa hai người nam nữ để sống chung với nhau như vợ chồng.
2. Trong đời sống chung đó, hai vợ chồng có bổn phận nâng đỡ nhau.
3. Hai vợ chồng sẽ sinh sản con cái qua sự hợp tác trong những hành vi tính dục hợp với nhân tính.
Mục đích của hôn nhân nên cần được nhấn mạnh, vì trong hoàn cảnh như ở Việt Nam có những thiếu niên, thiếu nữ kết hôn quá sớm. Họ phải được giáo dục và thấu hiểu rõ ràng rằng: để sinh sản con cái, cần phải có sự hợp tác hỗ tương giữa hai thân xác của hai vợ chồng, trong những hành vi tính dục hợp với nhân tính.
Ngày 14-3-1935, Tòa Roman Rota đã phán quyết: "Hai vợ chồng nên hiểu rằng để sinh sản con cái, một sự hợp tác đặc biệt giữa hai vợ chồng qua liên hệ thân xác là cần thiết". (Roman Rota, Vol.27, Dec.26, n.6) . Rồi ngày 3-12-1938: "Sự sinh sản con cái khác với việc nuôi con nuôi...Việc sinh sản con cái nghĩa là sau khi thân thể của hai vợ chồng liên hệ trong hành vi tính dục, người vợ sẽ mang thai và sinh con chứ không phải qua sự liên hệ giữa hai trí khôn.".
Có những người sau khi lập gia đình đã khẳng định rằng, nếu họ biết cuộc sống chung giữa hai vợ chồng là như thế, họ đã quyết định không ưng thuận kết hôn.
Theo Giáo luật, tuổi kết hôn là từ 16 tuổi cho nam giới và 14 tuổi cho nữ giới, với lý luận rằng tuổi dậy thì của người nam là 14 tuổi và người nữ là 12 tuổi (hai năm sau tuổi dậy thì).
Nếu có những trường hợp hoài nghi về kiến thức này của đôi hôn phối, những nguyên tắc sau đây phải được áp dụng:
- Trong trường hợp hồ nghi, hôn phối vẫn được coi là thành sự cho đến khi chứng minh được ngược lại. (xem c.1060).
- Người ta suy đoán rằng qua tuổi dậy thì, người nam và người nữ đều đã hiểu về sự liên hệ tính dục giữa hai vợ chồng. (xem c.1096,2).
- Lời ưng thuận đã biểu tỏ bề ngoài của một người trong nghi thức hôn phối, được suy đoán là diễn tả ý muốn bên trong của người ấy, những lời lẽ ngược lại với sự ưng thuận đã diễn tả được tuyên bố sau đó không có giá trị, ngoại trừ trường hợp với những lý chứng có thể chứng minh được. (xem số 255)
251.- SỰ LẦM LẪN.
"Sự lầm lẫn về thể nhân làm cho cuộc hôn phối vô hiệu. Sự lầm lẫn về một tư cách của thể nhân, cho dù là nguyên nhân kết ước, không làm cho hôn phối vô hiệu, trừ khi tính chất này được nhằm đến cách trực tiếp và chính yếu.". (Can.1097).
Lầm lẫn là phán đoán sai về sự thật của một việc nào đó (tích cực), khác với vô tri là không biết (tiêu cực). Lầm lẫn có thể đặt căn bản trên hai lãnh vực:
1. Lầm lẫn về sự việc: Tưởng anh X là người giàu có, thật ra anh rất nghèo. Loại này lại có thể được phân tích như sau:
(a) Lầm lẫn người này với người khác; trường hợp này hôn phối vô hiệu (xem c.1097,1).
(b) Lầm lẫn về nhân cách (tưởng anh không uống rượu); trường hợp này hôn phối hữu hiệu (xem c.1097,2).
Có thể có trường hợp một người đặt một điều kiện tất yếu (sine qua non) và được Bản Quyền chấp nhận trước khi thực hiện giao ước hôn phối. Nếu điều kiện tất yếu này không được thỏa mãn thì hôn phối vô hiệu (chỉ kết hôn với cô ta với điều kiện cô ta là một trinh nữ..).
2. Lầm lẫn về luật lệ: Tưởng hôn phối sau này có thể hủy bỏ được để lập gia đình một lần nữa; Hôn phối vẫn thành sự (xem c.15,1).
Khi khám phá ra một trường hợp hôn phối vô hiệu nhưng còn kín đáo, nếu muốn hữu hiệu hóa (convalidatio) chỉ cần hai bên lập lại lời hứa ưng thuận. Nhưng nếu sự vô hiệu đã trở thành công khai, nghi thức Bí Tích cần phải cử hành lại.
252.- SỰ LƯỜNG GẠT.
"Ai kết hôn do một sự lường gạt được bày ra vì mưu chước để cho mình ưng thuận, nếu sự lường gạt ấy liên hệ đến một tư cách của người bạn, mà tự nó, tư cách này có thể làm phiền nhiễu nặng nề cuộc sống chung của vợ chồng, thì sự kết hôn vô hiệu.". (Can.1098)
Lường gạt là nói dối có chủ ý, làm cho một người hiểu sai về sự thật của một việc để đạt được ý nguyện. Trong hôn phối, nếu sự lường gạt được bày ra với chủ ý làm cho người kia ưng thuận kết hôn với mình, sau đó, sự thật được phơi bày, ảnh hưởng nặng nề khiến cho gia đình tan vỡ thì sự ưng thuận trước đó được coi là vô hiệu. Để vô hiệu hóa một hôn phối ảnh hưởng bởi lường gạt, có thể thẩm định với những yếu tố sau:
1. Sự lường gạt đã xảy ra với chủ ý là cho người kia ưng thuận kết hôn.
2. Sự thật trái ngược hẳn với điều đã được trình bày khi lường gạt với tính cách quan trọng của sự việc.
3. Người kia đã hoàn toàn không biết gì về sự thật khi ưng thuận.
4. Khi sự thật được phơi bày đã gây nên sự tan vỡ của hôn phối.
Sự lường gạt hay dấu diếm có thể liệt kê trong các lãnh vực: Đồng tính luyến ái, nghiện rượu, ma túy, không bình thường về sinh hoạt tình dục, đã kết hôn dù không hữu hiệu, đã bị kết án hình sự, bệnh thần kinh, bệnh phong tình bất trị...
253.- LẦM LẪN VỀ ĐẶC TÍNH CỦA HÔN NHÂN.
"Sự lầm lẫn về đặc tính duy nhất hay bất khả phân ly hoặc về tính cách Bí Tích của hôn nhân, sẽ không làm sự ưng thuận hôn nhân bị hà tì, miễn là sự lầm lẫn ấy không chi phối vào ý muốn.". (Can.1099).
Theo luật, hôn phối có hai đặc tính: Duy nhất và bất khả phân ly hay còn có thể được gọi là đơn hôn và vĩnh hôn (chỉ lập gia đình với một người và lập gia đình với người ấy suốt đời).
Khi luật lệ đã được ban hành, giả thiết là mọi người trong hạn chi phối của luật đều biết và tuân giữ, lầm lẫn hay không biết, tưởng rằng hôn phối có thể hủy bỏ hay có thể có vợ hai, chồng hai, không làm cho hôn phối vô hiệu khi kết hôn. Trừ trường hợp ngay khi cử hành hôn lễ, một hay cả hai người liên hệ vẫn có ý định hay thật sự đang có liên hệ "vợ chồng" với một hay nhiều người khác.
254.- HIỂU LẦM.
"Việc biết hay tưởng rằng hôn phối bị vô hiệu, không nhất thiết loại trừ sự ưng thuận của hôn nhân.". (Can.1100).
Hai trường hợp có thể xảy ra lúc cử hành hôn phối:
1. Có ngăn trở hôn phối giữa hai người khi kết hôn, nhưng cả hai đều không hay biết. Luật cho rằng khi có ngăn trở, dù hai người liên hệ biết hay không cũng vẫn làm hôn phối vô hiệu. Tuy nhiên, vì hai người không hay biết gì về việc vô hiệu của hôn phối, nên luật gọi trường hợp hôn phối này là hôn phối giả định (putative) ( xem c.1061,3).
Sau một thời gian, họ mới biết đã có ngăn trở lúc họ kết hôn và họ muốn hữu hiệu (convalidatio) hoá hôn phối đó, hai hoàn cảnh cần lưu ý:
a.- Nếu ngăn trở đã trở thành công khai, đôi bên phải lập lại sự ưng thuận theo thể thức Giáo luật và những qui định nơi điều 1127,2.
b.- Nếu ngăn trở tuy được biết nhưng không chứng minh được, thì chỉ cần người nào biết có ngăn trở, lập lại lời hứa ưng thuận cách riêng tư và kín đáo, với điều kiện phỏng đoán rằng bên kia vẫn giữ lời ưng thuận họ đã bày tỏ trước kia lúc cử hành hôn phối. Nếu cả hai người đều biết, thì cả hai phải lập lại lời hứa ưng thuận theo cách như trên.
2. Không có ngăn trở khi kết hôn, nhưng một hay cả hai người liên hệ nghi ngờ rằng có ngăn trở:
a.- Nếu sự nghi ngờ là chắc chắn, thì hôn phối vô hiệu tự bản chất, vì họ "biết chắc chắn" có ngăn trở mà vẫn ưng thuận kết hôn: không thành thật ưng thuận.
b.- Nếu sự nghi ngờ là tương đối, thì hôn phối hữu hiệu vì họ ước muốn kết hôn thật sự.
255.- DIỄN TẢ SỰ ƯNG THUẬN.
"Sự ưng thuận bên trong của tâm hồn, được suy đoán là tương hợp với những lời lẽ và cử chỉ bộc lộ lúc kết hôn.
Tuy nhiên, nếu một bên hay cả hai bên, do một hành vi tích cực của ý chí, loại bỏ chính hôn phối hay một yếu tố chính yếu nào, hoặc một đặc tính chính yếu nào của hôn phối, thì sự kết hôn vô hiệu.". (Can.1101)
Giao ước hôn phối, cũng giống như những giao ước khác, ba trường hợp có thể xảy ra:
1. Một trong hai người không muốn kết hôn;
2. Một trong hai người hay cả hai người đều muốn kết hôn, nhưng không chấp nhận một hay nhiều yếu tố căn bản của giao ước hôn phối;
3. Một trong hai người hay cả hai người đều muốn kết hôn, chấp nhận những yếu tố căn bản của giao ước hôn phối, nhưng có ý định không tuân hành.
Trong hai trường hợp 1 và 2, hôn phối cử hành sẽ không thành sự. Trong trường hợp 3, sẽ được phân biệt như sau:
(a) Nếu có ý định không tuân hành trong việc giữ lòng chung thủy hay từ chối việc giáo dục con cái: Hôn phối thành sự;
(b) Nếu có ý định không tuân hành liên hệ đến tính cách bất khả phân ly của hôn phối Công Giáo hay về tính cách Bí Tích của hôn phối: Hôn phối không có giá trị ngay từ đầu (null and void) .
256.- KẾT HÔN VỚI ĐIỀU KIỆN.
"Kết hôn với điều kiện về tương lai thì không thể hữu hiệu. Kết hôn với điều kiện về quá khứ hay về hiện tại thì hữu hiệu hay không, tùy theo đối tượng của điều kiện đã xảy ra hay không.
Tuy nhiên, điều kiện nói ở triệt 2, không thể được đặt ra cách hợp pháp, nếu không được Bản Quyền sở tại cho phép bằng giấy tờ.". (Can.1102).
Điều kiện ở đây không phải là những điều kiện qui định do luật pháp (conditio juris), nhưng là những điều kiện đặt ra do chính một hay cả hai người liên hệ trong hôn phối. Với một hôn phối kết hôn với điều kiện, giao ước hôn phối đó chỉ thật sự hữu hiệu khi điều kiện đã đặt ra được hoàn tất.
Điều kiện không thể đặt ra về quá khứ hay hiện tại, vì chúng đã hay đang xảy ra rồi, mà đương sự vì vô tâm hay vô tình không biết, thí dụ như chàng phải là một kỹ sư hay nàng phải có của hồi môn chẳng hạn.
Điều kiện đặt ra trong tương lai là điều có thể chấp nhận được, nhưng luật đòi buộc phải được Bản Quyền cho phép hay chấp thuận, trong nhiều trường hợp, chính những điều kiện đặt ra này, ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình và là nguyên nhân làm cho gia đình tan vỡ. Thánh Bộ các Bí Tích nhắc nhở các Cha Sở hay các Tư tế chủ hôn phải tìm hiểu, điều tra xem trước khi kết hôn, những đương sự liên hệ có đặt ra bất cứ điều kiện nào không (Công Báo Tòa Thánh 22, 1941, tr.539).
Một vụ kiện nơi tòa án hôn phối dựa trên các điều kiện đã đặt ra trước khi cử hành hôn lễ, các thẩm phán phải dựa vào những nguyên tắc sau:
1. Điều kiện đã được đặt ra trước khi cử hành hôn lễ;
2. Điều kiện ấy chưa hề được đương sự rút lại;
3. Hiện tại điều kiện ấy vẫn còn bó buộc.
4. Điều kiện đã phải được đặt ra cách hợp pháp, liên hệ đến một hay nhiều yếu tố tất yếu, căn bản của hôn nhân.
257.- ƯNG THUẬN VÌ BẠO LỰC HAY SỢ HÃI.
"Hôn phối sẽ vô hiệu, nếu được kết lập vì bạo lực hay vì sợ hãi trầm trọng do một nguyên cớ ngoại tại, cho dù không chủ ý trực tiếp gây ra, nhưng để thoát khỏi nó, người bị bó buộc đành phải kết hôn.". (Can.1103).
A.- VÌ BẠO LỰC
Bạo lực là một đe dọa bên ngoài về tính mạng hay sự an toàn của đời sống. Khi một người dùng bạo lực để cưỡng chế một người khác bày tỏ sự ưng thuận kết hôn mà thật sự trong lòng họ không muốn, hôn phối sẽ vô giá trị ngay từ đầu (null and void) vì thiếu sự ưng thuận trong tự do.
B.- VÌ SỢ HÃI
Sợ hãi là trạng thái bên trong của một người, gây nên do một sự đe dọa nào đó, khiến họ lúng túng khi phải quyết định một sự việc. Trong hôn phối, sự sợ hãi ảnh hưởng như sau:
1. Ảnh hưởng trên đương sự: Nếu không ưng thuận kết hôn với người ấy thì sẽ bị ám hại, bị mất tài sản, không được chia gia tài, bị đuổi ra khỏi nhà...Tuy nhiên, cần để ý là cùng một vấn đề, đối với người này thì cực kỳ trầm trọng nhưng đối với người khác thì không quan trọng lắm. Nếu sự sợ hãi là cực kỳ trầm trọng với đương sự, thì hôn phối vô hiệu ngay từ đầu.
2. Ảnh hưởng ngoại tại: Đương sự sợ rằng nếu không được kết hôn với người ấy, đương sự sẽ mòn mỏi vì chán nản và sinh ra đau ốm và có thể chết, thành thử phải kết hôn. Hôn phối vẫn hữu hiệu.
3. Ảnh hưởng hoàn cảnh: Sự sợ hãi phải là một nguyên cớ liên hệ đến việc kết hôn, nói một cách khác, phải ảnh hưởng trực tiếp vào việc hôn nhân, nếu trong khoảng thời gian kết hôn, đương sự lo lắng, sợ hãi về việc thi rớt hay về việc sẽ bị đuổi sở... thì hôn phối vẫn hữu hiệu.
258.- PHẢI HIỆN DIỆN KHI KẾT HÔN.
"Để kết hôn hữu hiệu, cần hai người kết ước phải hiện diện cùng một lúc, hoặc đích thân hoặc qua một người đại diện.
Đôi bạn phải phát biểu sự ưng thuận kết hôn bằng lời nói; nếu không thể nói được, thì bằng nhữmg dấu hiệu tương đương.". (Can.1104)
Bộ luật 1917 qui định rằng để hôn nhân được hữu hiệu, cả hai người phải hiện diện bằng thân xác khi kết hôn. Bộ luật 1983 thích ứng qui định này. Do đó, để hôn phối được hữu hiệu, hai người liên hệ phải hiện diện cùng một lúc, hoặc đích thân, hoặc bằng đại diện (xem số 259). Tất cả những giao ước hôn phối được thực hiện qua thư tín, điện tín, điện thoại, truyền thanh hay truyền hình đều vô giá trị.
259.- KẾT HÔN BẰNG ĐẠI DIỆN.
"Để có thể kết hôn hữu hiệu bằng đại diện, luật đòi buộc:
(1) Phải có một ủy nhiệm thư đặc biệt để kết hôn với một người nhất định;
(2) Người đại diện phải được chỉ định bởi chính người ủy nhiệm, và chính họ phải đích thân chu toàn nhiệm vụ.
Để được hữu hiệu, ủy nhiệm thư phải được ký nhận bởi chính người ủy nhiệm, và hơn nữa, bởi Cha Sở hay bởi Bản Quyền Sở tại của nơi cấp ủy nhiệm thư, hoặc bởi một tư tế được một trong các vị ấy thừa ủy, hoặc bởi ít là hai nhân chứng, hoặc phải được thảo ra bằng hình thức văn kiện công chính theo luật dân sự.
Nếu người ủy nhiệm không thể viết, thì phải nói rõ điều đó trong ủy nhiệm thư, và phải có thêm một người chứng nữa và người này cũng ký vào thư. Nếu không, ủy nhiệm thư sẽ vô giá trị.
Nếu trước khi người đại diện kết lập hôn phối nhân danh người ủy nhiệm, mà chính người này thu hồi ủy nhiệm thư hoặc trở nên mất trí, thì hôn phối sẽ vô hiệu, cho dù người đại diện hoặc người kết ước kia không hay biết gì.". (Can.1105)
260.- KẾT HÔN QUA THÔNG NGÔN.
"Hôn phối có thể được kết lập qua thông ngôn, nhưng Cha Sở không được chứng hôn nếu không biết chắc chắn về sự trung thành của người thông ngôn. ". (Can.1106)
261.- SỰ HỮU HIỆU CỦA ƯNG THUẬN.
"Cho dù hôn phối đã cử hành cách vô hiệu vì lý do ngăn trở hay thiếu thể thức, sự ưng thuận đã cam kết phải được suy đoán là vẫn tồn tại, bao lâu chưa chắc chắn về sự thu hồi.". (Can.1107)
Một hôn phối đã được cử hành cách công khai được coi là hữu hiệu và vẫn tồn tại cho đến khi chứng minh ngược lại được, hay cho đến khi được thu hồi do nhà chức trách có thẩm quyền. (xem c.1060; số 213).
262.-CHỦ SỰ.
"Hôn phối chỉ hữu hiệu nếu được kết lập trước mặt Bản Quyền sở tại, hoặc Cha sở, hoặc một Tư tế hay Phó tế được các vị ấy ủy nhiệm chứng hôn, và trước mặt hai người làm chứng; tuy nhiên, phải theo các qui luật trong các điều nói dưới đây và tôn trọng các biệt lệ nói ở các điều 144; 1112,1; 1116 và 1117, 2 và 3.
Người chứng hôn chỉ được hiểu là người hiện diện để đòi hỏi hai bên kết ước bày tỏ sự ưng thuận và, nhân danh Giáo Hội đón nhận sự bày tỏ ấy.". (Can.1108)
Bản Quyền sở tại (xem số 220).
Từ ngữ Cha sở được hiểu như sau:
- Cha sở của một giáo xứ, dù thuộc triều hay Dòng tu (xem c.520,1).
- Quản sở của một bán giáo xứ (xem c.516,1).
- Tất cả các Tư tế trong một giáo xứ được giao cho nhiều Tư tế (xem c.517,1; 542,1).
- Cha sở nào được trao trách nhiệm săn sóc mục vụ của một giáo xứ đứng đầu do một Phó tế (xem c.517,2).
- Tư tế thay thế Cha sở trong thời gian Cha sở vắng mặt (xem c.533,3)
- Cha Quản nhiệm giáo xứ (xem c.539; 540,1).
- Cha Phó trong trường hợp thay thế Cha sở (xem c.541,1)
Sự hiện diện của các Tư tế kể trên phải là sự hiện diện tích cực: có mặt tại chỗ, hỏi và nhận sự biểu tỏ rõ ràng sự ưng thuận của đôi bên nhân danh Giáo Hội, không giống như sự hiện diện của những người chứng (tiêu cực).
Trong trường hợp một Tư tế hay Phó tế không có sự ủy nhiệm kể như trên, nhưng vì lầm lẫn, vô tình hiện diện và chứng giám hôn phối, việc chứng giám vẫn làm cho hôn phối hữu hiệu theo qui định Giáo Hội đền bù (ecclesia supplet) (xem c.144), miễn là theo sự phán đoán ngay lành của hai người phối ngẫu liên hệ rằng vị Tư tế ấy có sự ủy nhiệm. Tuy nhiên, qui định của điều 144 sẽ không được áp dụng trong trường hợp một Tư tế hay Phó tế cố tình đến một nơi xa lạ, làm chứng một trường hợp hôn phối đặc biệt mà không có sự ủy nhiệm của nhà chức trách có thẩm quyền; việc này không được hiểu là lầm lẫn mà là cố ý: Hôn phối vô hiệu.
Bên cạnh vị Chủ sự, luật còn đòi buộc hai nhân chứng, thiếu hai nhân chứng này, hôn phối vô hiệu. luật qui định rằng để có thể làm nhân chứng trong nghi thức hôn phối, một người phải biết xử dụng trí khôn và có khả năng làm chứng những điều họ đã nghe và đã thấy. Những điều kiện khác liên hệ đến hai người làm chứng, phải tuân theo luật dân sự địa phương qui định về nhân chứng cho các giao ước hay khế ước, thí dụ phải trên 18 tuổi...
263.- LÃNH VỰC TRÁCH NHIỆM.
"Bản Quyền Sở tại và Cha Sở, nếu không bị một án lệnh hay nghị định tuyên phạt hay tuyên bố tuyệt thông, hay cấm chế hay huyền chức, thì chiếu theo chức vụ, được chứng hôn cách hữu hiệu trong lãnh thổ của mình, các đôi hôn phối không những của những người thuộc quyền, mà cả những người không thuộc quyền, miễn là một trong hai người kết hôn thuộc lễ điển Latin.". (Can.1109)
Như thế, khi muốn chứng hôn cho một đôi hôn phối bên ngoài lãnh thổ trách nhiệm của mình, những người kể trên cần có sự ủy quyền của nhà chức trách địa phương có thẩm quyền.
264.- CHỦ SỰ TRÁCH NHIỆM.
"Bản Quyền và Cha Sở tòng nhân, chiếu theo chức vụ, chứng hôn cách hữu hiệu hôn phối của đôi nào mà ít ra một người là thuộc quyền mình, trong giới hạn lãnh thổ của mình.". (Can.1110)
265.- ỦY NHIỆM NĂNG QUYỀN.
"Bản Quyền Sở tại và Cha Sở, bao lâu còn hành xử chức vụ cách hữu hiệu, có thể ủy cho các Tư tế và Phó tế năng quyền, kể cả năng quyền tổng quát, để chứng hôn trong phạm vi lãnh thổ của mình.
Để việc thừa ủy năng quyền chứng hôn được hữu hiệu, cần phải xác định minh thị danh tánh những người được ủy; nếu là sự thừa ủy đặc định, thì phải xác định cụ thể hôn phối nào; nếu là sự thừa ủy tổng quát, thì phải cấp bằng giấy tờ.". (Can.1111)
Theo qui định này, Cha phó do chức vụ, không có năng quyền chứng giám hôn phối, trừ khi trong ủy nhiệm thư khi nhậm chức Bản Quyền sở tại có minh định cách khác. (xem số 82).
Gọi là ủy nhiệm đặc định, chỉ trường hợp một đôi hôn phối nhất định nào đó. Gọi là ủy nhiệm tổng quát, cho mọi trường hợp hôn phối (phải được ủy nhiệm bằng giấy tờ).
266.- GIÁO DÂN CHỨNG HÔN.
"Nơi nào thiếu Tư tế và Phó tế, Giám Mục giáo phận sau khi được Hội Đồng Giám Mục chấp thuận và Toà Thánh ban phép, có thể thừa ủy cho các giáo dân được chứng hôn.
Phải lựa chọn một người giáo dân xứng hợp, có đủ khả năng để huấn luyện những người sắp kết hôn và đủ tư cách cử hành phụng vụ hôn phối cách hợp thức. ". (Can.1112)
267.- CHO PHÉP KẾT HÔN.
"Trước khi ban cấp thừa ủy đặc định, phải chu toàn tất cả những gì luật đã qui định để xác nhận tình trạng thong dong.". (Can.1113)
Khi ủy nhiệm cho một Tư tế hay Phó tế làm chứng một trường hợp hôn phối, để hôn phối ấy được hữu hiệu và hợp pháp, Cha Sở hay Bản Quyền trách nhiệm đã phải hoàn tất các thủ tục điều tra, rao hôn phối, cũng như chắc chắn về tình trạng thong dong của hai người liên hệ ... (xem c.1066)
268.- NƠI CỬ HÀNH HÔN PHỐI.
"Hôn phối phải được cử hành tại giáo xứ, nơi mà một trong hai người kết hôn có cư sở, bán cư sở hay đã cư trú được một tháng; nếu là những người vô gia cư thì tại giáo xứ mà đương sự đang ở. Hôn phối có thể cử hành ở nơi khác, khi có phép của Bản Quyền riêng hay Cha sở riêng.". (Can.1115)
"Hôn phối giữa những người Công Giáo, hay giữa một bên là Công Giáo với một bên đã được rửa tội ngoài Công Giáo, phải được cử hành tại nhà thờ giáo xứ; nếu có phép của Bản Quyền sở tại hay Cha Sở, thì cũng có thể được cử hành trong nhà thờ hoặc nhà nguyện khác.
Bản Quyền sở tại có thể cho phép cử hành hôn phối tại một nơi khác xứng đáng.
Hôn phối giữa một bên Công Giáo và một bên không rửa tội có thể được cử hành trong nhà thờ hay tại một nơi khác xứng đáng.". (Can.1118)
Tất cả những trường hợp hôn phối giữa hai người đã được rửa tội (dù trong Giáo Hội Công Giáo hay các Giáo phái Kitô Giáo khác) phải được cử hành trong nhà thờ giáo xứ hoặc các nhà thờ khác hay nhà nguyện. Nếu muốn cử hành tại một nơi không phải là nhà thờ hay nhà nguyện, cần phải có phép của Bản Quyền sở tại.
269.- KHI KHÔNG CÓ LINH MỤC HAY PHÓ TẾ.
"Nếu không có ai có thẩm quyền theo Giáo luật để chứng hôn, hoặc phải gặp khó khăn lớn để đến với họ, thì những người thành tâm muốn kết hôn có thể kết ước hữu hiệu và hợp pháp trước mặt hai người làm chứng:
(1) Trong trường hợp nguy tử;
(2) Ngoài trường hợp nguy tử, miễn là tiên đoán theo sự khôn ngoan rằng tình trạng khó khăn sẽ kéo dài một tháng.
Trong cả hai trường hợp ấy, nếu hiện có một Tư tế hay Phó tế khác có thể đến được, thì phải mời các vị đến chứng kiến việc cử hành hôn phối cùng với hai người làm chứng, tuy dù hôn phối vẫn hữu hiệu nếu chỉ cử hành trước hai người làm chứng.". (Can.1116)
Những khó khăn lớn được Giáo luật giải thích như sau: trong trường hợp đường sá bị ngăn trở, lụt lội, phí tổn di chuyển quá lớn, bệnh hoạn ốm đau...Những khó khăn này có thể về phía Chủ sự cũng như có thể về phía đôi hôn phối.
Hơn nữa, việc cử hành hôn lễ không thể trì hoãn được quá một tháng, theo sự phán đoán khôn ngoan của những người liên hệ.
Việc một hôn nhân được cử hành, chỉ với sự hiện diện của hai người chứng hữu hiệu theo Giáo luật, không có nghĩa là được hợp pháp theo dân luật. Những người liên hệ phải lưu ý đến qui định của dân luật nơi họ sinh sống.
270.- CÔNG THỨC HÔN PHỐI.
"Phải giữ thể thức qui định ở trên, nếu ít là một trong hai người kết hôn đã được rửa tội trong Giáo Hội Công Giáo, hay đã được nhận vào Giáo Hội Công Giáo và chưa công khai bỏ Giáo Hội; đừng kể qui định của điều 1127,2.". (Can.1117) (xem số 277)
"Ngoài trường hợp khẩn thiết, khi cử hành hôn phối phải giữ các nghi thức đã được qui định trong các sách phụng vụ do Giáo Hội chuẩn y, hoặc được du nhập bởi các tập tục hợp lệ.". (Can.1119)
Một hôn phối Công Giáo khi cử hành phải đạt được hai yếu tố:
- Hữu hiệu: Sự ưng thuận của hai người liên hệ không bị ngăn trở bày tỏ trong tự do trước mặt hai nhân chứng và vị Chủ sự.
- Hợp pháp: Sự bày tỏ trên được thực hành theo thể thức Giáo luật định: Nghi thức Hôn phối theo luật phụng vụ.
Tất cả những hình thức cử hành khác như trước mặt nhà chức trách dân sự, tòa án...đều không hữu hiệu và hợp pháp trước mặt Giáo Hội.
271.- HÔN PHỐI THEO TẬP TỤC ĐỊA PHƯƠNG.
"Với sự duyệt y của Tòa Thánh, Hội đồng Giám Mục có thể soạn thảo nghi thức riêng về hôn phối thích ứng với các tập tục thấm nhuần tinh thần Công Giáo của dân chúng và địa phương. Tuy nhiên, phải bảo vệ qui luật về sự hiện diện của người chứng hôn để đòi hỏi hai người kết hôn bày tỏ sự ưng thuận và đón nhận sự bày tỏ ấy.". (Can.1120)
272.- SỔ GHI HÔN PHỐI.
"Sau khi cử hành hôn phối, Cha Sở ở nơi cử hành hay người thay thế Cha Sở, cho dù cả hai đã không chứng hôn, phải sớm ghi vào sổ hôn phối tên của đôi bạn, của người chứng hôn và các nhân chứng, nơi và ngày cử hành hôn phối, theo cách thức mà Hội Đồng Giám Mục hoặc Giám Mục Giáo phận đã ban hành.
Khi hôn phối được kết lập theo điều 1116 (xem số 270), thì Tư tế hay vị Phó tế hiện diện trong lễ cử hành, hoặc nếu không, thì các nhân chứng, có nghĩa vụ liên đới với đôi tân hôn phải báo cho Cha Sở hoặc Bản Quyền sở tại biết sớm hết sức về hôn phối đã cử hành.
Đối với hôn phối đã kết ước với phép chuẩn khỏi giữ thể thức Giáo luật, Bản Quyền sở tại đã ban phép chuẩn phải liệu ghi chú phép chuẩn và lễ cử hành, vào sổ hôn phối của Phủ Giáo phận và của giáo xứ riêng của phía người Công Giáo, tại nơi mà Cha Sở đã điều tra về tình trạng thong dong. Người phối ngẫu Công Giáo buộc phải trình cho Bản Quyền và Cha Sở biết sớm hết sức về hôn phối đã cử hành, cũng như về nơi cử hành và cả thể thức công khai đã giữ.". (Can.1121)
"Việc kết hôn cũng phải được ghi chú vào sổ rửa tội, trong đó đã ghi việc rửa tội của những người tân hôn.
Nếu một người phối ngẫu đã kết hôn ở ngoài giáo xứ, nơi họ đã rửa tội, thì Cha sở nơi cử hành hôn phối phải thông báo sớm hết sức cho Cha Sở nơi họ đã chịu phép rửa tội.". (Can.1122)
"Mỗi lần hôn phối, hoặc được hữu hiệu hóa ở toà ngoài, hoặc được tuyên bố vô hiệu, hoặc được tháo gỡ hợp pháp vì một lý do nào khác ngoài sự chết, thì Cha Sở nơi cử hành hôn phối phải được thông báo để ghi chú hợp lệ vào sổ hôn phối và sổ rửa tội.". (Can.1123)
|