home

Cẩm nang Giáo Luật Thực Dụng : Mục Lục

TẬP BỐN: NHIỆM VỤ THÁNH HÓA CỦA GIÁO Hội

PHẦN VII. NƠI THÁNH VÀ THỜI GIAN THÁNH.

323.- NƠI THÁNH.

"Nơi thánh là những nơi dành vào việc thờ phượng Thiên Chúa và việc mai táng các tín hữu, do sự cung hiến hay làm phép theo các quy định của sách phụng vụ. ". (Can.1205)

Để được gọi là một nơi thánh, nơi đó phải được Bản Quyền chỉ định qua sự thánh hiến hay làm phép.

Ngoài nhà thờ hay nhà nguyện, còn phải kể đến những nơi khác như bàn thờ, nghĩa trang...Nghĩa trang được kể là nơi thánh, bởi vì những thân xác được chôn cất đã là đền thờ sống động của Chúa và nghi thức an táng cũng được thực hiện tại nghĩa trang.

Nơi thánh cũng còn được phân biệt tùy theo nghi thức là được làm phép hay được thánh hiến. Thánh hiến là một nghi thức long trọng hơn việc làm phép và vì thế, nơi đã được thánh hiến cũng được coi trọng hơn nơi đã được làm phép.

324.- CUNG HIẾN HAY LÀM PHÉP.

"Việc cung hiến một nơi được dành cho Giám Mục giáo phận và những người được giáo luật đồng hóa với Giám Mục. Các ngài có thể ủy nhiệm cho một Giám Mục nào khác, hay trong những trường hợp ngoại lệ, cho một Linh mục, để cử hành việc cung hiến trong lãnh thổ của mình.". (Can.1206)

"Các nơi thánh được làm phép bởi Đấng Bản Quyền; tuy nhiên, việc làm phép nhà thờ được dành cho Giám Mục giáo phận. Cả hai vị đều có thể thừa ủy cho một Linh mục khác làm thay.". (Can.1207)

Trong một giáo phận, Giám Mục giáo phận chính là Bản Quyền, tuy nhiên, tiếng Bản Quyền còn được dùng để ám chỉ những người thay thế Giám Mục giáo phận trong trường hợp trống tòa, cản tòa, các Đại diện Tông Tòa, Phủ doãn Tông tòa, Giám quản Tông tòa, các Đan Viện phụ, các Tổng Đại diện, các Đại diện Giám Mục, các Bề trên cao cấp của các dòng tu giáo sĩ theo luật giáo hoàng, các Bề trên cao cấp của các Tu đoàn tông đồ giáo sĩ theo luật giáo hoàng.

Các nơi thánh được làm phép do Bản Quyền, trừ trường hợp làm phép nhà thờ được dành cho Giám Mục giáo phận, dù nhà thờ đó được thiết lập do một dòng tu.

"Cần phải thảo văn kiện làm vi bằng về việc làm phép hay cung hiến nhà thờ cùng về việc làm phép nghĩa trang. Một bản được lưu trữ tại phủ giáo phận, một bản trong văn khố nhà thờ.". (Can.1208)

"Việc đã cung hiến hay đã làm phép một nơi thì có thể được chứng minh do một nhân chứng đáng tin cậy cũng đủ, miễn là không làm hại ai.". (Can.1209)

325.- XỬ DỤNG NƠI THÁNH.

"Trong nơi thánh, chỉ được nhận điều gì giúp vào sự thi hành hay tăng gia việc thờ phượng, đạo đức, và tôn giáo; phải cấm những gì trái nghịch với sự thánh thiện của nơi thánh. Tuy nhiên, Bản Quyền có thể cho phép xử dụng vào những sinh hoạt khác, nhưng chỉ từng lần một, miễn là không trái với sự thánh thiện của nơi thánh.". (Can.1210)

326.- NƠI THÁNH BỊ XÚC PHẠM.

"Các nơi thánh bị xức phạm do những hành động bất xứng trầm trọng, sinh gương xấu cho giáo dân tại đó và, theo sự phán đoán của Bản Quyền sở tại, có tính cách nặng nề và trái nghịch với sự thánh thiện của nơi thánh đến nỗi không thể cử hành việc thờ phượng tại đó được nữa cho đến khi phạt tạ mọi bất xứng bằng một lễ nghi thống hối theo quy định của sách phụng vụ.". (Can.1211)

Khác với Bộ luật 1917, có qui định các hành động bất xứng hay án phạt làm một nơi thánh bị xúc phạm hay cấm chế, Bộ luật 1983 ủy thác hoàn toàn cho Bản Quyền sở tại và sự phán đoán khôn ngoan của ngài.

"Các nơi thánh mất sự cung hiến và làm phép, nếu bị phá hủy một phần lớn, hay bị xử dụng thường xuyên vào những công việc phàm tục, do một nghị định của Bản Quyền có thẩm quyền, hoặc do một sự kiện thực tế.". (Can.1212)

Nếu những lần bị phá hủy chỉ từng phần và cũng đã được sửa chữa lại từng phần, và nhiều lần sửa chữa đã khiến một nơi thánh không còn gì là vật liệu lúc nguyên thủy, nơi thánh ấy vẫn không mất sự làm phép hay cung hiến, sự cung hiến hay làm phép của một nơi thánh chỉ mất khi bị phá hủy một phần lớn trong một lần.

Nơi thánh có thể được bãi bỏ và sự cung hiến hay làm phép không còn giá trị nữa do nghị định của Bản quyền có thẩm quyền, hay do việc bị cưỡng chế, xử dụng vào những việc trần thế cách thường xuyên.

"Giáo quyền được tự do hành sử quyền bính và trách nhiệm của mình trong những nơi thánh.". (Can.1213)

327.- NHÀ THỜ.

"Danh từ nhà thờ được hiểu là một tòa nhà thánh dành riêng cho việc thờ phượng Thiên Chúa, và mọi tín hữu có quyền đến đó để làm việc thờ phượng Chúa, nhất là phụng sự công.". (Can.1214)

Phân biệt nhà thờ và nhà nguyện:

- Nhà thờ được dành cho "mọi tín hữu", trong khi nhà nguyện chỉ dành cho "một nhóm tín hữu".

- Nhà thờ được thánh hiến hay cung hiến, trong khi nhà nguyện được làm phép.

- Mỗi nhà thờ phải có một tước hiệu, trong khi nhà nguyện không bắt buộc phải có tước hiệu.

328.- XÂY CẤT VÀ SỬA CHỮA NHÀ THỜ.

"Nhà thờ chỉ được xây cất khi có sự đồng ý minh thị bằng giấy tờ của Giám Mục giáo phận.

Giám Mục giáo phận chỉ nên ban phép sau khi đã tham khảo ý kiến Hội Đồng Linh Mục và các Linh mục quản đốc các nhà thờ kế cận, và ngài xét thấy rằng nhà thờ mới sẽ sinh ích cho các linh hồn, cũng như không lo thiếu phương tiện xây cất nhà thờ và những việc cần thiết khác cho việc phụng tự.

Các dòng tu, dù đã được Giám Mục giáo phận đồng ý cho lập tu viện trong giáo phận, cũng còn phải có sự đồng ý của ngài trước khi xây nhà thờ trong một địa điểm chắc chắn và xác định.". (Can.1215)

"Khi xây và sửa nhà thờ, ngoài việc hỏi ý các nhà chuyên môn, cần phải tuân giữ những nguyên tắc và những quy luật của phụng vụ và nghệ thuật thánh nữa. ". (Can.1216)

Nhiều điểm quan trọng cần được lưu ý khi xây nhà thờ:

1. Duy chỉ có Giám Mục giáo phận có quyền cho phép xây và sửa chữa nhà thờ.

2. Phép xây và sửa chữa nhà thờ phải được minh thị bằng giấy tờ thật rõ ràng.

3. Mặc dù phải tham khảo ý kiến Hội đồng Linh mục và các Linh mục quản đốc các nhà thờ kế cận, Giám Mục không buộc phải nghe theo họ, nhưng tùy sự phán đoán riêng của ngài.

4. Mặc dù khi Giám Mục giáo phận cho phép một dòng tu thiết lập chi nhánh và hoạt động trong địa phận ngài coi sóc đã ám chỉ việc cho phép xây nhà thờ nhưng nếu trong đơn xin từ lúc ban đầu không đề cập đến việc xây cất nhà thờ thì khi xây vẫn cần có phép riêng.

"Khi đã hoàn tất việc xây cất, nhà thờ mới phải được cung hiến hay làm phép theo quy luật phụng vụ thánh càng sớm càng tốt.

Các nhà thờ, đặc biệt nhà thờ chính tòa và nhà thờ giáo xứ, phải được cung hiến với nghi lễ trọng thể.". (Can.1217)

Không nên cử hành một nghi thức thánh nào trong một nhà thờ hay nhà nguyện chưa được thánh hiến hay làm phép.

329.- TƯỚC HIỆU NHÀ THỜ.

"Mỗi nhà thờ phải mang một tước hiệu riêng, và một khi đã cung hiến, không thể thay đổi tước hiệu nữa.". (Can.1218)

Tước hiệu của các nhà thờ có thể được chọn từ tên của các vị Thánh hay các danh từ diễn tả các mầu nhiệm thánh.

330.- XỬ DỤNG NHÀ THỜ.

"Trong nhà thờ đã cung hiến hay làm phép hợp lệ, có thể cử hành các sinh hoạt phụng tự, nhưng phải tôn trọng các quyền lợi của giáo xứ.". (Can.1219)

"Phải tôn trọng các quyền lợi của giáo xứ", nếu nhà thờ này không phải là nhà thờ của giáo xư ấy mà chỉ tọa lạc trong giáo xứ, vì Bí tích Rửa tội (xem c.857,2) và Hôn phối (xem c.1115) phải được cử hành trong nhà thờ của giáo xứ.

"Những người có trách nhiệm coi sóc nhà thờ phải lo giữ nhà thờ sạch sẽ và trang nghiêm, xứng đáng là nhà của Chúa, cùng ngăn cản tất cả những gì nghịch với sự thánh thiện của nơi ấy.

Để giữ gìn các đồ vật thánh và quý giá, cần phải xử dụng những phương tiện bảo trì thường lệ và những biện pháp an ninh thích hợp.". (Can.1220)

"Việc lui tới nhà thờ trong giờ cử hành phụng tự phải được tự do và miễn phí. ". (Can.1221)

332.- BÃI BỎ MỘT NHÀ THỜ.

"Nếu một nhà thờ không còn cách nào có thể xử dụng vào việc phụng tự và không thể nào trùng tu được nữa, thì Giám Mục giáo phận có thể cho phép xử dụng vào công việc phàm tục không uế tạp.

Khi có những lý do khác quan trọng xui khiến không tiện xử dụng nhà thờ vào việc phụng tự nữa, thì Giám Mục giáo phận, sau khi tham khảo ý kiến Hội Đồng Linh Mục và được sự thỏa thuận của những người có quyền lợi hợp lệ trong nhà thờ, có thể cho xử dụng vào việc phàm tục không uế tạp, miễn là không vì thế mà làm thiệt hại đến lợi ích của các linh hồn.". (Can.1222)

Một nhà thờ, vì những lý do bất khả kháng, không còn có thể xử dụng được nữa, sẽ được cho phép bãi bỏ. Khi được phép bãi bỏ, sự cung hiến hay làm phép trước đó, tự nó không còn giá trị và nhà thờ đó có thể sẽ được xử dụng vào những mục đích khác, nhưng phải lưu ý về mục đích khác đó để không biến đổi một nơi đã từng là một nhà thờ bây giờ lại thành một nơi phàm tục uế tạp.

333.- NHÀ NGUYỆN

"Danh từ nhà nguyện được hiểu là một nơi được Bản Quyền ban phép dành vào việc phụng thờ Thiên Chúa, vì lợi ích của một cộng đoàn hay một nhóm giáo dân lui tới đó và, với sự đồng ý của Bề Trên có thẩm quyền, các giáo dân khác cũng có thể lui tới.". (Can.1223)

"Bản Quyền chỉ được cho phép lập nhà nguyện sau khi đã đích thân hay nhờ người khác đến thị sát nơi muốn dành làm nhà nguyện, và thấy nơi ấy xứng đáng.

Khi đã xin được phép rồi, nhà nguyện không được xử dụng vào công việc phàm tục nữa, nếu không có phép của chính Bản Quyền ấy.". (Can.1224)

Từ ngữ Bản Quyền ở đây được hiểu như sau:

1. Nếu là nhà nguyện được thiết lập cho phần tử của các dòng tu hay tu đoàn tông đồ, trong khuôn viên của nhà dòng thì Bản Quyền chính là Bề trên cao cấp của dòng tu hay tu đoàn tông đồ ấy

2. Nếu là nhà nguyện được thiết lập ngoài khuôn viên của nhà dòng, dành cho các tín hữu lui tới thì Bản Quyền phải là Bản Quyền địa phương.

"Trong nhà nguyện đã thiết lập hợp lệ, có thể cử hành mọi nghi lễ phụng vụ, trừ những gì mà giáo luật hay chỉ thị của Bản Quyền của địa phương hạn chế, hay trái với quy luật phụng vụ.". (Can.1225)

Giáo luật lưu ý các tín hữu không nên vắng mặt khỏi nhà thờ giáo xứ nơi mình cư trứ thường xuyên quá, chỉ vì lý do tham dự các nghi thức thánh tại một nhà nguyện nào đó và vì một lý do nào đó. Bản Quyền địa phương nên ra những qui luật qui định rõ ràng rằng các tín hữu không bị lệ thuộc vào một nhà nguyện đã được thiết lập vì lý do riêng, không nên lui tới nhà nguyện đó cách thường xuyên. (xem thêm số 327)

334.- PHÒNG NGUYỆN.

"Danh từ phòng nguyện được hiểu là nơi được Bản Quyền địa phương cho phép dành vào việc thờ phượng vì ích lợi của một người hay một số người. ". (Can.1226)

"Các Giám Mục có thể lập một phòng nguyện riêng cho mình. Phòng nguyện ấy được hưởng các quyền lợi như một nhà nguyện.". (Can.1227)

"Đừng để quy định của điều 1227, để cử hành thánh lễ và các nghi thức phụng vụ khác trong phòng nguyện tư, cần phải có phép của Bản Quyền sở tại. ". (Can.1228)

Phân biệt Nhà nguyện và Phòng nguyện:

1. Nhà nguyện được thiết lập cho một cộng đoàn hay một nhóm đông các tín hữu; trong khi Phòng nguyện chỉ dành cho một cá nhân hay một nhóm nhỏ.

2. Sau khi được làm phép, các nghi lễ thánh được phép cử hành trong một nhà nguyện; trong khi không được phép làm như thế với một phòng nguyện.

3. Phòng nguyện riêng của một Giám Mục được luật đồng hóa với nhà nguyện.

335.- LÀM PHÉP NHÀ NGUYỆN HAY PHÒNG NGUYỆN.

"Nên làm phép nhà nguyện và phòng nguyện riêng theo nghi thức đã định trong sách phụng vụ; và phải dành riêng vào việc phụng tự, tránh xử dụng vào bất cứ công việc thường khác trong nhà.". (Can.1229)

336.- THÁNH ĐIỆN.

"Danh từ thánh điện được hiểu là một nhà thờ hay một nơi thánh khác, mà vì một lý do đạo đức đặc biệt, giáo dân thường xuyên lui tới hành hương, với sự chuẩn nhận của Bản Quyền sở tại.". (Can.1230)

"Để một thánh điện trở thành một thánh điện toàn quốc, cần được sự chuẩn nhận của Hội Đồng Giám Mục; để trở thành thánh điện quốc tế, cần được sự chuẩn nhận của Tòa Thánh.". (Can.1231)

"Việc phê chuẩn quy chế của thánh điện giáo phận thuộc thẩm quyền của Bản Quyền sở tại; việc phê chuẩn quy chế của thánh điện toàn quốc thuộc thẩm quyền của Hội Đồng Giám Mục; và chỉ Tòa Thánh mới có thẩm quyền phê chuẩn quy chế của thánh điện quốc tế.

Trong quy chế phải xác định nhất là về mục đích, quyền hạn của vị Quản đốc, quyền sở hữu và việc quản trị.". (Can.1232)

"Một số đặc ân có thể được ban cho các thánh điện mỗi khi thấy hoàn cảnh địa phương, số khách hành hương đông đảo và nhất là lợi ích của tín hữu đòi hỏi ". (Can.1233)

"Tại các thánh điện, cần phải cung cấp dồi dào những phương thế cứu rỗi cho các tín hữu như: chuyên cần rao giảng Lời Chúa, cổ võ đời sống phụng vụ, đặc biệt bằng việc cử hành Thánh Lễ và việc thống hối, cũng như thực hành các hình thức đạo đức bình dân đã được công nhận.

Những di tích tạ ơn bày tỏ lòng đạo đức và có giá trị nghệ thuật bình dân được trưng bày trong thánh điện hay các nơi kế cận, phải được duy trì và gìn giữ an toàn.". (Can.1234)

337.- BÀN THỜ.

"Bàn thờ, túc là bàn trên đó cử hành Hy Lễ Thánh Thể, được nói là cố định khi nó được xây gắn liền với nền nhà đến nỗi không thể xê dịch được; là lưu động nếu có thể xê dịch được. Trong mỗi nhà thờ nên có một bàn thờ cố định; còn ở những nơi khác dành cho việc cử hành phụng vụ, bàn thờ có thể cố định hay lưu động.". (Can.1235)

"Theo tập tục lưu truyền của Giáo Hội, mặt bàn thờ cố định phải làm bằng đá, và hơn nữa, bằng một tảng đá tự nhiên duy nhất. Tuy nhiên, mặt bàn thờ cũng có thể làm bằng chất liệu khác, xứng đáng và vững chắc tùy theo sự phán đoán của Hội Đồng Giám Mục. Chân hay đế bàn thờ có thể làm bằng chất liệu khác.

Bàn thờ lưu động có thể làm bằng bất cứ chất liệu gì vững chắc thích hợp với công tác phụng vụ.". (Can.1236)

Trong những thế kỷ đầu tiên của Giáo Hội, bàn thờ được làm bằng bất cứ chất liệu nào có thể có được. Dần dần, việc dùng bàn thờ bằng đá được thích ứng. Thời Gratian (thế kỷ XII), trong sắc luật ông đã ghi lại, có khoản qui định rằng không được dâng lễ trên một bàn thờ không phải làm bằng đá. Thánh Thomas Aquinas giải thích theo Kinh Thánh dựa theo việc Chúa Kitô là đá tảng, Giáo Hội được xây dựng trên đá đó và chính sau khi Chúa chịu tử nạn, Ngài cũng được chôn cất trong một ngôi mộ bằng đá.

"Bàn thờ cố định phải được cung hiến; bàn thờ lưu động phải được cung hiến hay làm phép theo nghi thức trong sách phụng vụ.

Cần giữ tập truyền lâu đời lưu giữ hài cốt các vị tử đạo hay các thánh khác dưới bàn thờ cố định, theo quy luật trong sách phụng vụ.". (Can.1237)

Việc lưu giữ hài cốt các thánh dưới bàn thờ đặt căn bản trong đoạn sách Khải Huyền của Thánh Gioan: "Tôi thấy dưới tế đàn hồn những kẻ đã bị sát hại vì Lời Thiên Chúa và vì lời chứng tá họ có nơi mình..." (KH. 6,9). Thánh Augustino cũng đã viết về sự liên hệ giữa những mầu nhiệm giữa Chúa Kitô và những người tử đạo: "Thật có ý nghĩa khi hài cốt của các Thánh Tử đạo được lưu giữ nơi bàn thờ, nơi Hy tế Thánh Thể được cử hành mỗi ngày diễn tả việc hiến mình của chính Ngài và sự hiến mình của những kẻ theo Ngài".

Bàn thờ cố định hay lưu động không mất sự cung hiến hay làm phép dù khi bàn thờ hay nơi thánh bị xử dụng vào việc phàm tục. (xem c.1238)

"Bàn thờ, dù cố định hay lưu động, chỉ được dành riêng cho việc phụng tự; tuyệt đối phải loại trừ mọi xử dụng phàm tục.

Không được chôn táng xác chết dưới bàn thờ; trong trường hợp ngược lại, không được phép cử hành thánh lễ trên bàn thờ ấy.". (Can.1239)

338.- NGHĨA TRANG.

"Nơi nào có thể, phải có nghĩa trang riêng của Giáo Hội, hay ít ra một khoảng trong nghĩa trang dân sự được dành riêng cho các tín hữu đã qua đời, và phải làm phép thích đáng.

Nếu không thể có nghĩa trang như trên, thì phải làm phép các phần mộ từng phần một.". (Can.1240)

Nếu là nghĩa trang riêng của Giáo Hội, khi thiết lập đã được làm phép, tất cả các phần mộ hưởng việc làm phép này; do đó, không cần phải làm phép từng phần mộ mới lúc chôn cất. Nếu là nghĩa trang dân sự, hiểu là không được thiết lập do thẩm quyền của Giáo Hội và không được làm phép lúc thiết lập, khi một tín hữu được an táng tại nghĩa trang dân sự này, từng phần mộ riêng biệt nên được làm phép theo nghi thức phụng vụ.

"Các giáo xứ và các dòng tu có thể có nghĩa trang riêng.

Các pháp nhân khác và các gia đình cũng có thể có phần mộ hay nghĩa trang riêng, và có thể được làm phép theo phán đoán của Bản Quyền sở tại. ". (Can.1241)

"Không được táng xác trong nhà thờ; tuy nhiên, thi hài của Đức Giáo Hoàng, các Hồng Y hay các Giám Mục giáo phận, dù hồi hưu, được phép an táng trong nhà thờ riêng.". (Can.1242)

Không được táng xác các tín hữu "trong nhà thờ" kể cả việc lưu giữ hài cốt sau khi cải táng, hay việc lưu giữ một phần thân thể đã được cắt rời ra trong một cuộc giải phẩu hay một biến cố nào đó. (Thánh Bộ Công Đồng trong Công Báo Tòa Thánh số 20, 1928,261-264).

"Luật địa phương phải ấn định các quy luật thích hợp cần giữ về nghĩa trang, đặc biệt để bảo vệ và đề cao tính cách thánh thiện của nó.". (Can.1243)

339.- THỜI GIAN THÁNH.

Thời gian thánh là thời gian được thánh hóa chính thức do nhà chức trách có thẩm quyền của Giáo Hội với các sinh hoạt phụng vụ hay đạo đức.

"Duy quyền bính tối cao của Giáo Hội mới có thẩm quyền thiết lập, chuyển dịch, bãi bỏ những ngày lễ, cũng như những ngày thống hối chung cho toàn thể Giáo Hội, tuy vẫn giữ giá trị của điều 1246, triệt 2. (xem số 340)

Các Giám Mục giáo phận có thể ấn định những ngày lễ hay những ngày thống hối riêng cho giáo phận hay địa phương của các ngài, nhưng chỉ từng trường hợp thôi.". (Can.1244)

"Đừng kể quyền của các Giám Mục giáo phận, Cha Sở, khi có lý do chính đáng và theo chỉ thị của Giám Mục giáo phận, có thể miễn chuẩn từng lần nghĩa vụ phải giữ ngày lễ hay ngày thống hối, hoặc thay thế bằng việc đạo đức khác. Bề Trên dòng tu hay tu đoàn tông đồ, nếu là dòng giáo sĩ thuộc luật Giáo Hoàng, cũng có quyền miễn chuẩn như Cha Sở đối với các thuộc cấp và những người khác ngày đêm trọ trong nhà.". (xem c.1245)

340.- CÁC NGÀY LỄ.

"Ngày Chúa Nhật, tức ngày cử hành Vượt Qua, do truyền thống từ các thánh tông đồ, phải được giữ trong toàn thể Giáo Hội như ngày lễ trọng nguyên khởi bắt buộc. Ngoài ra, còn phải giữ các ngày lễ Sinh Nhật Chúa Giêsu, lễ Hiển Linh, lễ Chúa Lên Trời, lễ Mình Thánh và Máu Thánh Chúa Giêsu, lễ Đức Maria Mẹ Thiên Chúa, lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm, lễ Đức Mẹ Lên Trời, lễ Thánh Giuse, lễ Thánh Phêrô và Phaolô Tông Đồ, lễ Các Thánh.

Tuy nhiên, với sự phê chuẩn của Tòa Thánh, Hội Đồng Giám Mục có thể bỏ bớt vài ngày lễ buộc hay chuyển dời qua ngày Chúa Nhật.". (Can.1246)

Trong những ngày lễ Buộc qui định trên đây, các ngày lễ Hiển Linh, lễ Mình Thánh Máu Thánh Chúa Giêsu thường đã được cử hành vào ngày Chúa Nhật. Còn những ngày lễ Buộc khác, lịch phụng vụ ấn định như sau:

- Các ngày Lễ về Chúa: Lễ Sinh nhật Chúa Giêsu: ngày 25-12; Lễ Chúa Lên Trời: 40 ngày sau ngày Chúa Phục sinh (ngày Thứ Năm trong tuần).

- Các ngày Lễ về Đức Mẹ: Lễ Đức Maria Mẹ Thiên Chúa: ngày 1-1; Lễ Đức Mẹ Vô nhiễm: ngày 8-12; Lễ Đức Mẹ lên trời: Ngày 15-8.

- Các ngày Lễ về các Thánh: Lễ Thánh Giuse: ngày 19-3; Lễ Thánh Phêrô và Phaolô: ngày 29-6; Lễ các Thánh: ngày 1-11.

"Vào ngày Chúa Nhật và các ngày lễ buộc khác, tín hữu buộc phải tham dự thánh lễ, và hơn nữa, kiêng làm những công việc hay hoạt động làm ngăn trở sự thờ phượng Thiên Chúa, sự hưởng niềm vui riêng của ngày của Chúa, hoặc sự nghỉ ngơi cần thiết cho tâm trí và thân xác.". (Can.1247)

341.- BỔN PHẬN GIỮ CÁC NGÀY LỄ.

"Ai tham dự Thánh Lễ, cử hành theo lễ nghi công giáo bất cứ ở đâu, hoặc vào chính ngày lễ hay vào chiều ngày trước lễ, thì người ấy đã chu toàn việc buộc dự lễ.

Nếu không có tác viên thánh hay vì lý do quan trọng khác khiến cho việc tham dự Thánh Lễ không thể thực hiện được, thì phải hết sức khuyên nhủ giáo dân tham dự Phụng vụ Lời Chúa, nếu được cử hành trong nhà thờ xứ hay tại một nơi thánh khác theo như chỉ thị của Giám Mục giáo phận; hoặc dành một thời giờ phải chăng để cầu nguyện, cách riêng tư hay với gia đình, hoặc nếu thuận tiện, với cả liên gia.". (Can.1248)

342.- CÁC NGÀY THỐNG HỐI VÀ VIỆC THỐNG HỐI.

"Luật Chúa buộc mọi tín hữu làm việc thống hối theo cách thức riêng của mỗi người. Nhưng để các tín hữu liên kết với nhau trong một vài nghĩa vụ thống hối chung, luật quy định những ngày thống hối, để trong những ngày ấy, các tín hữu chứ trọng đặc biệt đến sự cầu nguyện, thi hành việc đạo đức và việc bác ái, từ bỏ bản thân, bằng cách trung thành chu toàn các bổn phận riêng và nhất là bằng cách giữ chay và kiêng thịt, dựa theo các điều luật sau đây.". (Can.1249) (xem thêm số 343)

"Những ngày và mùa thống hối chung cho toàn thể Giáo Hội là các ngày thứ sáu trong năm và mùa chay.". (Can.1250)

Theo luật chung, các ngày thứ sáu trong cả năm và mọi ngày trong suốt mùa chay (40 ngày, kể từ thứ Tư lễ Tro đến hết thứ Sáu Tuần Thánh) Giáo Hội kêu mời mọi tín hữu thực hiện việc thống hối bằng một hay hai hay tất cả những cách thế sau đây:

1.- Cầu nguyện, viếng Thánh Thể, đọc Sách Thánh, lần chuỗi...

2.- Thi hành việc đạo đức và bác ái: thăm viếng bệnh nhân, kẻ bị tù đày, bố thí cho người nghèo, dạy giáo lý...

3.- Từ bỏ bản thân bằng cách trung thành chu toàn các bổn phận riêng, nhất là bằng cách giữ chay và kiêng thịt.

343.- LUẬT ĂN CHAY VÀ KIÊNG THỊT

"Vào các ngày thứ sáu, nếu không trùng với ngày lễ trọng, thì phải giữ việc kiêng thịt hay kiêng một thức ăn khác theo Hội Đồng Giám Mục đã quy định. vào ngày thứ tư Lễ Tro và ngày thứ sáu Tuần Thánh kính nhớ sự Thương Khó và Tử Nạn của Chúa Giêsu Kitô, phải giữ việc kiêng thịt và ăn chay.". (Can.1251)

"Luật kiêng thịt buộc những người đã 14 tuổi trọn. Luật ăn chay buộc hết mọi người đã đến tuổi trưởng thành cho tới lúc bắt đầu 60 tuổi. Tuy nhiên, các Chủ chăn và các phụ huynh phải lo dạy cho các em chưa đến tuổi buộc ăn chay và kiêng thịt để chúng hiểu biết ý nghĩa đích thực của việc thống hối.". (Can.1252)

Những người đã được 14 tuổi trọn phải giữ luật kiêng thịt (theo cách tính tuổi giáo luật qui định) (xem số 15), Những người trong khoảng từ 18 tuổi trọn đến 59 tuổi trọn phải giữ luật ăn chay. Tuy nhiên, Giáo Hội khuyến khích cả những tín hữu khác, dù không trong hạn tuổi qui định trên, nếu có thể được, cũng nên giữ luật ăn chay và kiêng thịt trong những khoảng thời gian đã qui định.

"Hội Đồng Giám Mục có thể xác định rõ rệt hơn việc giữ chay và kiêng thịt, cũng như thay thế chúng cách toàn phần, hay từng phần bằng những hình thức thống hối khác, nhất là bằng những việc từ thiện và đạo đức.". (Can.1253)

Chấm dứt Cẩm nang Giáo Luật.

Linh mục Giuse Bùi Đức Tiến.

 


 
Top