|
Cẩm nang Giáo Luật Thực Dụng :
Mục Lục
TẬP BỐN: NHIỆM VỤ THÁNH HÓA CỦA GIÁO Hội
CHƯƠNG VII : BÍ TÍCH HÔN PHỐI
MỤC 3 : NGĂN TRỞ HÔN PHỐI NÓI CHUNG.
225.- KHÁI NIỆM VỀ NGĂN TRỞ.
Những ngăn trở hôn nhân làm cho người ta mất khả năng kết hôn một cách hữu hiệu.". (Can.1073).
Ngăn trở là tình trạng, hoàn cảnh cá nhân của một người, theo luật định, ảnh hưởng trong việc kết hôn của người ấy, làm cho người ấy nếu kết hôn sẽ không thành sự hay không hợp pháp. Giáo luật trước kia (1917) phân biệt hai loại ngăn trở:
- Ngăn trở trở ngại (impedimentis dirimentibus) ảnh hưởng đến việc hợp pháp khiến việc cử hành hôn phối hữu hiệu nhưng bất hợp luật;
- Ngăn trở tiêu hôn (impedimentis impedibus) khiến việc cử hành hôn phối không hữu hiệu.
Bộ luật mới (1983) chỉ đề cập chung đến ngăn trở hôn phối mà thôi còn tất cả các ngăn trở đều gọi là ngăn trở hôn phối.
Những ngăn trở hôn phối phát sinh từ nhiều nguồn luật định:
- Ngăn trở do Thiên luật hay luật tự nhiên như trong trường hợp những người bị bất lực vĩnh viễn, những người đã lập gia đình rồi, những người có họ hàng gần v.v...;
- Ngăn trở do luật Giáo Hội như hai người muốn kết hôn có liên hệ họ hàng do sự kết hôn (hôn thuộc), tuổi tác v.v...
226.- NGĂN TRỞ KÍN VÀ CÔNG KHAI.
Ngăn trở được coi là công khai khi có thể chứng minh được ở tòa ngoài, đối lại là ngăn trở kín đáo. (Can.1074).
- Ngăn trở công khai: Có thể chứng minh được bằng giấy tờ hay do người làm chứng, như trường hợp một người đã kết hôn trước đó rồi, hoặc còn là vị thành niên, hoặc đã thụ phong Linh mục, hoặc đã khấn trọn đời trong một Dòng tu, hoặc hai người có liên hệ họ hàng huyết tộc, hôn thuộc, dưỡng hệ...
- Ngăn trở kín đáo: Không thể chứng minh được ở tòa ngoài.
227.- NGUỒN GỐC NGĂN TRỞ.
"Chỉ duy quyền bính tối cao của Giáo Hội, mới có thẩm quyền tuyên bố chính thức khi nào luật Chúa cấm đoán hay tiêu hủy hôn phối.
Cũng vậy, chỉ duy quyền bính tối cao của Giáo Hội mới có thẩm quyền đặt ra các ngăn trở khác dành cho những người đã chịu Phép Rửa Tội.". (Can.1075).
Tuy nhiên, khi đã tuyên bố chính thức một ngăn trở nào thuộc về luật Chúa rồi, quyền bính tối cao này không miễn chuẩn được những ngăn trở đó nữa.
228.- CẤM KẾT HÔN.
"Trong một trường hợp nào đó, Bản Quyền sở tại có thể cấm những người thuộc quyền mình hiện cư ngụ ở bất cứ đâu, và tất cả những người hiện đang cư ngụ trong lãnh thổ riêng của mình, không được cử hành hôn phối, nhưng sự cấm đoán chỉ có tính cách tạm thời, do một lý do quan trọng và cho đến bao lâu lý do ấy còn tồn tại.
Chỉ có quyền bính tối cao của Giáo Hội, mới có thể thêm vào điều ngăn cấm một khoản ngăn trở hôn nhân.". (Can.1077).
Dù có sự ngăn cấm này của Bản Quyền sở tại, nhưng những ngăn cấm này không ảnh hưởng đến việc thành sự của Bí Tích mà chỉ làm cho việc cử hành bất hợp pháp mà thôi (có nghĩa là dù có ngăn cấm nhưng vẫn cử hành thì Bí Tích cũng thành sự, nhưng việc cử hành này bất hợp pháp). Chỉ duy quyền bính tối cao của Giáo Hội mới có thể đặt thêm một ngăn trở mới khiến cho hôn nhân không thành sự khi cử hành. (xem c.1075).
229.- NGĂN TRỞ DO TỤC LỆ.
"Bất cứ một tục lệ nào du nhập một ngăn trở mới hay tục lệ trái nghịch với những ngăn trở hiện hành đều bị bài bác.". (Can.1076).
Giáo luật không chấp nhận bất cứ một tục lệ nào, nếu tục lệ ấy có thể tạo nên những ngăn trở mới hay bãi bỏ những ngăn trở Giáo Hội đã tuyên bố chính thức. (xem c.24; số 9).
230.- MIỄN CHUẨN NGĂN TRỞ HÔN PHỐI.
"Bản Quyền sở tại có thể chuẩn mọi ngăn trở Giáo luật cho những người thuộc quyền mình cư ngụ bất cứ ở đâu, và những người hiện đang ở trong lãnh thổ riêng của mình, trừ những ngăn trở mà Toà Thánh dành quyền miễn chuẩn:
Những ngăn trở Tòa Thánh dành quyền miễn chuẩn:
1. Ngăn trở do chức Thánh hoặc do lời khấn công khai giữ khiết tịnh trọn đời trong một Dòng tu thuộc luật giáo hoàng;
2. Ngăn trở do tội ác nói ở điều 1090*;
Không bao giờ được miễn chuẩn ngăn trở do huyết tộc trực hệ hay bàng hệ cấp thứ hai.". (Can.1078).
(*) Ngăn trở phát sinh do sự liên hệ đến việc giết vợ hoặc chồng của mình, hay vợ hoặc chồng của người mình muốn kết hôn. (xem c.1090; số 243)
231.- NGUY TỬ KHẨN CẤP. (Articulo Mortis) .
Phần này đề cập đến khả năng có thể miễn chuẩn các ngăn trở hôn phối trong những trường hợp nguy tử.
1.- Năng quyền của Bản Quyền sở tại:
Trong trường hợp nguy tử, Bản Quyền sở tại có thể miễn chuẩn cho những người thuộc quyền mình cư ngụ bất cứ ở đâu, và mọi người đang cư ngụ trong lãnh thổ riêng của mình, vừa về các thể thức phải giữ trong việc cử hành hôn phối, vừa về tất cả và từng ngăn trở theo luật Giáo Hội, hoặc công khai hoặc kín đáo, ngoại trừ ngăn trở do chức Linh mục. (xem c.1078,1).
Có thể hiểu nguy tử khẩn cấp, trong trường hợp một người đang lo sợ về sự chết, dù do nguyên nhân bên trong hay bên ngoài, thí dụ như đang mắc một bệnh hiểm nghèo, nguy hiểm trong lúc lâm bồn, trước một chuyến công tác nguy hiểm hay trên đường ra trận mạc v.v...
Bản Quyền sở tại có thể miễn chuẩn, để một hôn lễ không cần phải cử hành theo nghi thức hôn phối, đã được ấn định trong luật Phụng vụ và tất cả các ngăn trở hôn phối khác, trừ một ngăn trở duy nhất là ngăn trở chức Linh mục.
2.- Năng quyền của những thừa tác viên hôn phối:
Trong những hoàn cảnh nói trên, nhưng chỉ trong trường hợp không thể đến với Bản Quyền sở tại được, thì Cha Sở hay các thừa tác viên thánh, những người được ủy quyền hợp lệ, hay linh mục hoặc Phó tế chứng hôn theo điều 1116,2 cũng có năng quyền miễn chuẩn tương tự như Bản Quyền sở tại. (xem c.1078,2).
"Được coi là không thể đến với Bản Quyền sở tại được, nếu chỉ có thể liên lạc bằng điện thoại hay điện tín thôi.". (Can.1078,4).
232.- NGĂN TRỞ VÀ CHA GIẢI TỘI.
"Trong trường hợp nguy tử, Cha giải tội được hưởng quyền miễn chuẩn các ngăn trở còn kín đáo ở tòa trong vào lúc, hay cả ngoài lúc ban Bí Tích Giải Tội.". (Can. 1078,3).
Cha giải tội có thể là một Linh mục trong họ đạo, cũng có thể là một Cha khách được mời, cả hai đều có năng quyền trong trường hợp này như nhau, nhưng phải để ý là chỉ được miễn chuẩn những trường hợp còn trong tòa kín chưa bị tiết lộ ra bên ngoài.
Nếu ngăn trở kín đáo này đã được miễn chuẩn không phải trong lúc giải tội, cha giải tội phải ghi lại và lưu giữ trong văn khố mật của địa phận. Sau này, khi ngăn trở trở thành công khai, đương sự không cần xin miễn chuẩn ở tòa ngoài nữa. Nhưng nếu ngăn trở kín đáo đã được miễn chuẩn trong lúc giải tội, vì có ấn tích nên Cha giải tội không thể ghi lại được, sau này, khi ngăn trở trở thành công khai, đương sự cần phải xin miễn chuẩn ở tòa ngoài. (xem c.1082).
233.- BIẾT NGĂN TRỞ QUÁ MUỘN
"Khi khám phá ra ngăn trở vào lúc mọi sự đã sẵn sàng cho hôn lễ, và nếu giãn hôn lễ lại cho đến khi được phép chuẩn của nhà chức trách có thẩm quyền thì chắc sẽ có nguy cơ thiệt hại nặng nề, lúc ấy, Bản Quyền sở tại có quyền miễn chuẩn tất cả các ngăn trở, trừ những ngăn trở đã liệt kê ở điều 1078,2-1(*); và nếu ngăn trở còn kín đáo, thì tất cả những người nói ở điều 1079, 2 và 3(**) có quyền miễn chuẩn, miễn là giữ những điều kiện đã được qui định.". (Can 1080,1).
(*) 1078,2-1: Ngăn trở do chức thánh hoặc khấn trọn đời trong Dòng tu thuộc luật giáo hoàng.
(**) 1079,2 và 3: Cha Sở hay các thừa tác viên thánh được ủy quyền hợp lệ hay Cha giải tội với những ngăn trở còn kín đáo.
Sau khi đã điều tra, đã rao xong ở nhà thờ và các thủ tục cần thiết khác về phương diện thiêng liêng (không phải về phương diện vật chất như đã gửi thiệp mời hay tiệc tùng đã sẵn sàng) rồi mới khám phá ra một ngăn trở, mà nếu chờ đợi để xin miễn chuẩn từ Bản Quyền có thẩm quyền thì không còn đủ thời gian và có thể gây ra những thiệt hại nặng nề, Bản Quyền sở tại có quyền miễn chuẩn, trừ trường hợp ngăn trở là chức Linh mục, và nếu những ngăn trở còn kín đáo, nghĩa là không chứng minh được ở tòa ngoài, và không thể liên lạc với Bản Quyền địa phương được, thì những người đã được qui định nơi điều 1079, 2 và 3 đều có quyền miễn chuẩn như luật qui định.
Nếu một đôi hôn phối là những người lạ, đã và đang cư ngụ trong địa phận mình được một tháng trở lên, Bản Quyền sở tại có thể áp dụng qui định này.
Những qui định này cũng được áp dụng cho những người lạ (vagi) đang ở trong địa phận mình chưa đến một tháng, nhưng có giấy giới thiệu của Bản Quyền hợp pháp hay ít là Cha sở hợp pháp của họ. (c.1115).
"Quyền này cũng có giá trị để hữu hiệu hóa hôn phối, mà nếu giãn lại sẽ có những nguy cơ như nêu trên, và cũng không còn thì giờ để nại đến Tòa Thánh hay Bản Quyền sở tại, khi liên can đến các ngăn trở thường vẫn được miễn chuẩn.". (Can 1080,2).
Ở đây cần lưu ý "khi liên can đến những ngăn trở thường vẫn được miễn chuẩn".
Có những nguyên tắc cần nhớ trong điều qui định này:
1. Sự khó khăn trong việc liên lạc với Bản Quyền sở tại.
2. Việc liên lạc sẽ mất nhiều thời giờ và hôn lễ phải giãn lại.
3. Việc giãn lại ngày hôn lễ sẽ có nguy cơ thiệt hại nặng nề.
234.- SAU KHI MIỄN CHUẨN.
"Những người đã được qui định nơi điều 1079,2; nghĩa là các tư tế chủ hôn phải báo ngay cho Bản Quyền sở tại biết về ơn miễn chuẩn đã được ban ở tòa ngoài. Sự miễn chuẩn này phải được ghi vào sổ hôn phối.". (Can 1081).
235.- VĂN THƯ MIỄN CHUẨN.
"Trừ khi Phúc nghị của Tòa Ân Giải Tòa Thánh định cách khác, ơn miễn chuẩn một ngăn trở kín đáo ban nơi tòa giải tội nhưng ngoại bí tích, cũng phải ghi vào sổ, giữ tại văn khố mật của Giáo phủ. Nếu sau đó, ngăn trở thành công khai, đương sự không cần phải xin ơn miễn chuẩn ở tòa ngoài nữa.". (Can 1082).
Trừ những trường hợp liên hệ đến ấn tích tòa giải tội, tất cả những miễn chuẩn khác khi ban một cách kín đáo -chỉ có đôi hôn phối và tư tế chủ sự biết thôi- đều phải ghi và giữ tại văn khố mật địa phận và sau đó, những trường hợp đã được ghi lại không cần xin miễn chuẩn nếu trở thành công khai.
|