home

Cẩm nang Giáo Luật Thực Dụng : Mục Lục

TẬP BỐN: NHIỆM VỤ THÁNH HÓA CỦA GIÁO Hội

CHƯƠNG VII : BÍ TÍCH HÔN PHỐI

MỤC 4 : NGĂN TRỞ HÔN NHÂN NÓI RIÊNG.

236.- NGĂN TRỞ VỀ TUỔI TÁC.

"Người nam chưa đủ 16 tuổi, người nữ chưa đủ 14 tuổi, không thể kết hôn cách hữu hiệu.

Hội Đồng Giám Mục địa phương có thể ấn định tuổi lớn hơn.". (Can 1083).

Có thể có những thiếu niên nam nữ dưới tuổi ấn định này, nhưng đã phát triển về phương diện thân xác để có thể có khả năng lập gia đình, nhưng ở đây, giáo luật đề cập đến sự ưng thuận trong ý thức và sự hiểu biết những trách nhiệm khác của hôn nhân khi hai người thực hiện giao ước. Giao ước làm thành hôn phối chứ không phải sự kết hợp của thân xác làm thành hôn phối.

Theo phong tục của người Việt Nam có thói quen tính thêm một tuổi vào ngày đầu năm âm lịch. Tuổi theo cách tính của Giáo luật không giống như thế (xem c.203), (16 tuổi có nghĩa là kể từ ngày được sinh ra, tính đến hết ngày, cùng ngày với ngày sinh ấy của 16 năm sau đó, 14 tuổi cũng theo cách tính này nhưng là 14 năm sau). Hôn phối chỉ hữu hiệu nếu được cử hành sau giờ thứ 24 của ngày cùng ngày với ngày sinh tính theo tuổi.

Các chủ chăn nên lưu ý trong các công tác giáo huấn, khuyên các bạn trẻ không nên lập gia đình quá sớm vào lúc tuổi còn là vị thành niên.

237.- NGĂN TRỞ BẤT LỰC.

"Bất lực để giao hợp, có trước khi kết hôn và vĩnh viễn, hoặc về phía người nam, hoặc về phía người nữ, dù tuyệt đối, dù tương đối, tự bản tính của nó khiến cho hôn phối vô hiệu.

Nếu ngăn trở bất lực có tính cách hoài nghi, dù hoài nghi về luật hay về sự kiện, thì không nên ngăn cản hôn phối hay tuyên bố vô hiệu bao lâu còn hoài nghi.

Sự son sẻ không ngăn cấm, cũng không tiêu hủy hôn phối, miễn là đừng kể những qui định của điều 1098(*).". (Can 1084).

(*) 1098: hôn phối phát sinh do sự lường gạt.

Hơn nữa, khi hai người trao đổi cam kết họ chỉ trao đổi với nhau sự nâng đỡ hỗ tương trong đời sống chứ không cam kết sẽ phải có con cái.

Bất lực được định nghĩa là thiếu khả năng thực hiện việc giao hợp tự nhiên nam nữ. Sự giao hợp được coi là động tác của người chồng gieo tinh trùng của mình vào âm đạo của người vợ. Động tác này tự nó (per se) là động tác có tính cách truyền giống, phải được thực hiện hợp với nhân tính (xem c.1061) và phải hoàn tất (tinh trùng được gieo vào âm đạo), sự giao hợp nửa vời không được coi là hoàn tất (một hôn phối chỉ được coi là hoàn hợp "consummatum" nếu hành động giao hợp toàn vẹn đã được thực hiện giữa hai vợ chồng (xem c.1061; số 214).

Khả năng giao hợp nơi người chồng: Có thể gieo tinh dịch của mình vào âm đạo của người vợ qua động tác giao hợp. Việc có sự hiện diện của tinh trùng hay không trong tinh dịch này, không được coi là ngăn trở hôn phối, ngay cả trường hợp một người nam đã được giải phẩu để cắt cả hai bên ống dẫn tinh, vẫn không ngăn trở trong việc thành sự của hôn phối (*).

(*) Bộ Giáo lý Đức Tin, 13/5/1977, Canon Law Digest, Bouscaren và O'Connor, Quyển 18, Milwaukee-New York: The Bruce Publishing Co. 1934-1969, trang 676-677.

Khả năng giao hợp nơi người vợ: Âm đạo của người vợ có thể tiếp nhận cơ quan sinh dục của người chồng qua động tác giao hợp. Việc người vợ thiếu tử cung (nhưng có âm đạo), thiếu buồng dẫn trứng hay thiếu vòi dẫn trứng không phải là ngăn trở hôn phối, ngay cả khi cơ quan sinh dục của người vợ là do nhân tạo nhưng được ghép nối bởi những cơ phận sống khác của cơ thể.(**)

(**) Communicationes 6, Vatican City, 1974, trang 196-197.

Như thế, hai vợ chồng có thể thực hiện hành động diễn tả tình yêu qua việc giao hợp, còn vấn đề không thể có con cái được là do một thiếu sót tự nhiên (naturale) .

Phân biệt những loại bất lực:

1. Bất lực tiền hôn phối: Có trước khi cử hành hôn lễ;

2. Bất lực hậu hôn phối: Có sau khi cử hành hôn lễ;

3. Bất lực vĩnh viễn: Không chữa được hay chữa được nhưng nguy hiểm đến tính mạng;

4. Bất lực tạm thời: Sau một thời gian sẽ khỏi;

5. Bất lực tương đối: Chỉ bất lực với một số người;

6. Bất lực tuyệt đối: Bất lực với tất cả mọi người;

7. Bất lực chắc chắn: chứng minh được;

8. Bất lực hoài nghi: không chứng minh được bằng những sự kiện thông thường.

Bất lực tiền hôn phối, vĩnh viễn và tuyệt đối: không thể kết hôn hữu hiệu với bất cứ ai.

Bất lực tiền hôn phối, vĩnh viễn và tương đối: chỉ kết hôn vô hiệu với những người nào đương sự bất lực.

Ngăn trở này hiện diện, dù người phối ngẫu kia biết hay không biết về sự bất lực của người bạn mình, vì đây là một ngăn trở theo luật tự nhiên, Giáo Hội không miễn chuẩn được. Nhưng nếu sau một cuộc giải phẩu, sự bất lực biến mất, ngăn trở cũng không còn lý do hiện hữu nữa.

Nếu ngăn trở bất lực còn trong vòng hoài nghi thì không được ngăn cản họ cử hành hôn lễ, cũng không được tuyên bố hôn phối vô hiệu nếu họ đã kết hôn, cho đến khi sự hoài nghi chấm dứt.

Những người lớn tuổi hay bệnh tật nhưng không ảnh hưởng đến cơ quan sinh dục của họ, có nghĩa là họ có khả năng giao hợp (capaces coeundi), họ không phải là những người bất lực, họ được gọi là những người son sẻ, hành động của họ xét theo "per se" vẫn hướng về sự sinh sản, nhưng không đưa đến kết quả thụ thai (per accidens).

238.- NGĂN TRỞ ĐÃ KẾT HÔN.

"Người còn bị ràng buộc bởi một hôn nhân trước, cho dù chưa hoàn hợp, không thể kết hôn cách hữu hiệu.

Cho dù hôn phối trước vô giá trị hay bị đoạn tiêu vì bất cứ lý do nào, nhưng không thể vì thế mà được phép kết hôn lại, khi chưa biết cách chắc chắn và hợp lệ sự vô hiệu hoặc sự đoạn tiêu của hôn phối trước đó.". (Can.1085).

Đây là một ngăn trở theo luật tự nhiên, thiên luật và nhân luật. Do đó, buộc mọi người không kể là trong hay ngoài Giáo Hội. Một người đã kết hôn rồi không thể kết hôn thành sự một lần nữa, nếu lần hôn phối trước đó chưa được tuyên bố vô hiệu hay đã được tháo gỡ do thẩm quyền của Giáo Hội; dù hôn phối đó đã được thực hiện không theo nghi thức và luật pháp của Giáo Hội, nhưng chỉ theo phong tục tập quán địa phương.

Người ta có thể nại đến những lý do của riêng họ để biện hộ cho sự bất thành của lần hôn phối trước đó như: thiếu sự ưng thuận, hay trước đó đã có những ngăn trở, hay đã không được thực hiện theo nghi thức luật định v.v...nhưng tất cả những lý do này đều không có giá trị nếu như không được thẩm quyền của Giáo Hội nhìn nhận và tuyên bố rõ ràng theo các điều luật 1682, 1683 và 1684.

Hôn phối trước đó được coi là thành sự và hai người liên hệ không thể kết hôn thành sự một lần nữa, được thẩm định như sau:

1. Những hôn phối đã được thành nhận và hoàn hợp chỉ có sự chết mới có thể tháo gỡ được. Sự chết của người phối ngẫu phải được chứng minh do giấy khai tử hợp lệ, nếu thiếu giấy tờ này, điều luật 1707 (*) phải được áp dụng.

(*) 1707: Suy đoán về sự mệnh một của người phối ngẫu được Bản Quyền có thẩm quyền nhìn nhận.

2. Một hôn phối đã được thành nhận nhưng chưa hoàn hợp có thể được tháo gỡ do thẩm quyền Giáo Hoàng. (c.1142).

3. Hôn phối giữa một người Công Giáo và một người chưa bao giờ được rửa tội cử hành theo thể thức hợp lệ (vinculum naturale) , có thể được tháo gỡ do thẩm quyền Giáo Hoàng. (c.1142).

Đây là trường hợp một người Công giáo kết hôn (có phép chuẩn) với người ngoại giáo không thuộc về bất cứ một giáo phái Kitô giáo nào .

4. Hôn phối giữa hai người lương dân chưa bao giờ được rửa tội có thể được tháo gỡ do Đặc Ân Thánh Phaolô (ex privilegio Paulino) . (xem số 286 và 287)

5. Hôn phối của một người Công Giáo với một người lương dân cử hành theo thể thức dân sự không được kể là hôn phối.

Việc tháo gỡ hôn phối (dissolutione vinculi) được chứng minh bằng giấy tờ của thẩm quyền trong Giáo Hội, với giấy tờ hợp lệ này, người đã được tháo gỡ có thể kết hôn thành sự không cần qua một thủ tục nào khác.

Nếu chủ tế không chắc chắn về việc thành sự hay không của lần hôn phối trước của một người nào đó, ngài không được cử hành lần hôn phối thứ hai cho người ấy khi chưa trình cho Bản Quyền sở tại. Tương tự, trong trường hợp nghi ngờ về sự mệnh một của người phối ngẫu của họ.

239.- NGĂN TRỞ KHÁC ĐẠO.

"Hôn phối cũng vô hiệu (không thành sự) giữa một người đã được rửa tội trong Giáo Hội Công Giáo hay đã được nhận vào Giáo Hội và chưa công khai bỏ Giáo Hội, với một người không rửa tội.

Không được chuẩn ngăn trở này nếu chưa chu toàn những điều kiện qui định trong các điều 1125 và 1126.

Nếu vào lúc kết hôn, một bên vốn được coi là đã rửa tội, hoặc có hoài nghi về việc rửa tội, điều 1060 phải được tuân giữ. Hôn phối phải được suy đoán là hữu hiệu, cho đến khi nào chứng minh được cách chắc chắn là một bên đã rửa tội và một bên không được rửa tội.". (Can.1086).

Phân biệt ở đây hôn phối giữa một người Công Giáo và một người lương dân, chứ không phải hôn phối giữa một người Công Giáo với một người Kitô Giáo trong một giáo phái không phải là Công Giáo.

Hôn phối giữa một người Công Giáo và một người Kitô Giáo nhưng không phải là Công Giáo thành sự nhưng bất hợp pháp. Hôn phối này chỉ thành sự và hợp pháp khi được Bản Quyền sở tại cho phép.

Còn hôn phối giữa một người Công Giáo và một người lương dân không thành sự (chỉ thành sự và hợp pháp khi có phép chuẩn).

Hôn phối dân sự giữa hai người lương dân thành sự theo luật tự nhiên.

Hôn phối dân sự giữa hai người đã rửa tội nhưng không phải trong Giáo Hội Công Giáo (Tin Lành chẳng hạn) thành sự theo luật tự nhiên.

Hôn phối dân sự giữa một người đã rửa tội, nhưng không thuộc Giáo Hội Công Giáo và một người lương dân cũng thành sự theo luật tự nhiên.

Nhưng hôn phối giữa một người đã rửa tội theo Công Giáo với một người lương dân không thành sự (nếu không có phép chuẩn).

Phải hiểu thế nào là một người đã được rửa tội theo Công Giáo?

1. Những người mà cha mẹ là Công Giáo hay một bên cha mẹ là Công Giáo được đưa tới thánh đường và được rửa tội hợp lệ lúc còn sơ sinh.

2. Con cái của các cha mẹ Công Giáo hay một bên cha mẹ là Công Giáo, được rửa tội do bất cứ người nào thực hiện trong cơn nguy tử.

3. Con cái của những cha mẹ không Công Giáo, nhưng đã xin và được chấp nhận rửa tội theo Công Giáo.

4. Con cái của những cha mẹ không Công Giáo nhưng vì trong cơn nguy tử, nên đã được rửa tội do bất cứ tác nhân Công Giáo nào dù cha mẹ chúng không biết.

5. Những người đã rửa tội theo một giáo phái Kitô Giáo khác, không phải là Công Giáo, nhưng sau đó được chấp nhận theo nghi thức hợp lệ vào Giáo Hội Công Giáo dù đã không được rửa tội lại và chỉ tuyên xưng Đức tin.

Nói chung, có ba yếu tố khiến cho một người đã được rửa tội và theo Công Giáo:

- Được rửa tội hợp lệ, với ý muốn cho theo đạo Công Giáo của cha mẹ hay của người bảo trợ.

- Được rửa tội với ý muốn theo đạo Công Giáo của chính đương sự (trong trường hợp những người trưởng thành).

- Được rửa tội với ý muốn cho theo đạo Công Giáo của người thực hiện việc rửa tội.

Có những trường hợp đã rửa tội thành sự nhưng không phải là Công Giáo: một người Kitô Giáo không thuộc giáo phái Công giáo.

Những trường hợp hôn phối được nghi ngờ là một bên đã rửa tội, để quyết đoán về việc hữu hiệu hay không của trường hợp hôn phối này, phải điều tra một cách kỹ lưỡng, nhưng trong suốt thời gian điều tra, hôn phối ấy vẫn được coi là hữu hiệu cho đến khi chứng minh ngược lại được. (xem c.1060).

240.- NGĂN TRỞ ĐÃ CHỊU CHỨC THÁNH.

"Những người đã chịu chức thánh không thể kết hôn cách thành sự được.". (Can.1087).

Đây không phải là một ngăn trở theo Thiên luật mà chỉ là một ngăn trở Giáo luật: Một người được gia nhập vào hàng giáo sĩ khi lãnh nhận chức Phó tế(c.266).

Điều luật 277 qui định rằng các giáo sĩ buộc phải giữ khiết tịnh hoàn toàn và trọn đời vì nước trời. Như thế, ngăn trở hôn phối bắt đầu từ khi người ấy lãnh nhận chức Phó tế. Ngăn trở chỉ thật sự hiện diện khi lãnh nhận chức thánh cách thành sự.

Tất cả các giáo sĩ đều biết một cách rõ ràng và chấp nhận qui luật này, trước khi tự do tình nguyện xin được lãnh nhận chức thánh. Không thể có một biện luận cho rằng một giáo sĩ không biết điều luật này:

1. Một giáo sĩ sau một thời gian sống trong bậc giáo sĩ cho rằng mình lãnh nhận chức thánh vì sợ hãi (ab extrinseco) , sẽ được giải thích như sau:

(a) Khoảng thời gian ngay sau khi lãnh nhận chức thánh, người ấy đã thi hành nhiệm vụ của chức thánh đó một cách tự do, sự tự do này được hiểu là người ấy đã chấp nhận với ý chí của riêng mình điều luật khiết tịnh, không còn bị áp lực của sợ hãi;

(b) Sau khi lãnh nhận chức thánh, người ấy đã cố gắng sống tốt theo bậc giáo sĩ: người ấy đã sống theo luật khiết tịnh.

Giáo Hội tương đối dễ dàng miễn chuẩn ngăn trở này cho những người đã lãnh nhận chức Phó tế, đôi khi cho những người đã lãnh nhận chức Linh mục, nhưng chưa bao giờ cho những người đã lãnh nhận chức Giám Mục.

Miễn chuẩn được ban cho đương sự về việc không phải giữ khiết tịnh chứ không phải miễn chuẩn khỏi chức thánh.

Hầu hết tất cả các ngăn trở hôn phối khác đều được miễn chuẩn rong trường hợp nguy tử khẩn cấp, nhưng ngăn trở thánh chức Linh mục vẫn được dành riêng cho Tòa Thánh (xem c.1079), không thừa tác viên nào được phép miễn chuẩn ngăn trở này kể cả Bản Quyền sở tại.

Giáo sĩ nào cả gan bất chấp điều luật này và kết hôn, dù chỉ là kết hôn nơi thẩm quyền dân sự sẽ lập tức bị Vạ huyền chức tiền kết (latae sententiae suspensio).

241.- NGĂN TRỞ ĐÃ KHẤN DÒNG.

"Những người đã gia nhập vào một Dòng tu bằng lời khấn công khai giữ khiết tịnh trọn đời, cũng không thể kết hôn cách thành sự được.". (Can.1088).

Đây cũng là một ngăn trở Giáo luật. Đời sống hôn nhân và đời sống của những người tu trì trái ngược nhau, vì không thể thực hiện việc giữ khiết tịnh tu trì được, khi sống trong hoàn cảnh đời sống vợ chồng.

Ba lời khấn thông thường trong các Dòng tu là những lời khấn công khai. Những lời khấn này có thể là tạm thời (chỉ giữ lời khấn trong một khoảng thời gian đã định nào thôi, không phải giữ cả đời) và có thể là trọn đời (sẽ giữ lời khấn trong suốt đời).

Một người kết hôn khi đang giữ lời khấn tạm, thì hôn phối vẫn thành sự nhưng không hợp pháp. Một người kết hôn khi đang giữ lời khấn trọn đời, thì hôn phối sẽ không thành sự.

Trong trường hợp nguy tử, Bản Quyền sở tại có quyền miễn chuẩn ngăn trở này, và trong trường hợp không thể liên lạc với Bản Quyền được, những giáo sĩ nào (kể cả các Phó tế) là chủ hôn hợp lệ của những trường hợp ngăn trở này cũng có thể miễn chuẩn.

Tu sĩ nào đã khấn trọn đời mà cả dám kết hôn dù là nơi tòa dân sự sẽ lập tức bị Vạ tiền kết cấm chế (latae sententia in interdictum).

242.- NGĂN TRỞ BỊ BẮT CÓC.

"Hôn phối sẽ vô giá trị giữa người nam với người nữ bị bắt cóc hay ít ra bị giam giữ để ép buộc kết hôn, trừ khi sau đó, người nữ được thả ra ở một nơi an ninh và tự do, tự ý đồng ý kết hôn.". (Can.1089).

Luật không đề cập đến trường hợp ngược lại, nghĩa là khi người nữ bắt cóc và ép buộc người nam. Tuy nhiên, trong trường hợp này, hôn phối tự nó vô hiệu vì sự ưng thuận được thực hiện trong lúc bị áp lực và sự sợ hãi (xem c.1090).

Bắt cóc được hiểu là khi có xử dụng bạo lực, bạo lực có thể hiểu là hành hạ thân xác hay hăm dọa về danh giá, lường gạt và lừa dối cũng có thể được hiểu về thể diện, danh giá cá nhân hay danh dự gia đình, vì khi người nữ phải quyết định trong những trường hợp này họ đã mất đi ý chí tự do của họ.

Nhưng nếu bị bắt cóc vì một lý do khác, rồi trong thời gian bị giam giữ, người nữ tự ý quyết định kết hôn với người bắt cóc mình, việc kết hôn trong trường hợp này không bị ngăn trở.

Ngăn trở hôn phối vẫn tồn tại bao lâu, khi người nữ còn trong vòng kềm tỏa của người bắt cóc mình, cho dù người nữ ấy có tuyên bố rằng mình quyết định một cách tự do.

Ngăn trở vẫn còn tồn tại, nếu người nữ đã tìm cách trốn được khỏi tay người bắt cóc.

Ngăn trở chỉ chấm dứt, khi người nữ được thật sự thong dong và quyết định với một ý chí hoàn toàn tự do. Nếu người nữ quyết định kết hôn khi còn bị áp lực, ngoài ngăn trở ép buộc, còn một yếu tố khác nữa ảnh hưởng sự kết hôn, đó là sự ưng thuận của họ không thật.

Vì là một ngăn trở Giáo luật, nên những người lương dân không bị chi phối do ngăn trở này, nghĩa là hôn phối của họ dù là kết quả của một vụ bắt cóc vẫn có giá trị. Họ chỉ có thể đặt vấn đề vô giá trị hóa hôn nhân trong những trường hợp này khi họ đã rửa tội hợp lệ trong Giáo Hội.

Không thể lầm lẫn việc bắt cóc với việc "bỏ nhà theo trai", việc này có sự ưng thuận hoàn toàn tự do giữa hai người nam nữ liên hệ, dù cả hai bên cha mẹ của họ đều không đồng ý. Quyến rũ hay cám dỗ không tạo nên ngăn trở hôn phối vì khi quyết định họ vẫn còn ý chí tự do.

Ngăn trở này có thể được miễn chuẩn do Bản Quyền sở tại hay trong trường hợp không thể liên lạc với Bản Quyền được, những giáo sĩ chủ hôn hợp lệ cũng có năng quyền miễn chuẩn. Nếu ngăn trở còn kín đáo, Cha giải tội cũng có năng quyền miễn chuẩn.

243.- NGĂN TRỞ TỘI ÁC.

"Kẻ nào với chủ ý kết hôn với một người nào đó, đã gây ra sự chết cho người phối ngẫu của người đó hay cho người phối ngẫu của mình, thì hôn phối với người đó sẽ vô hiệu. Cả những người đã cộng tác một cách thể lý hay luân lý để giết người phối ngẫu, cũng không thể kết hôn với nhau cách hữu hiệu.". (Can.1090).

1. Trường hợp một trong hai người:

Ngăn trở hiện diện trong trường hợp một trong hai người đang chủ tâm sẽ kết hôn với nhau, có chủ ý và gây nên cái chết của người đang là vợ hay chồng của mình, trực tiếp hay nhờ tay của một người khác.

Ngăn trở áp đặt trên người thi hành việc sát nhân.

Vì là ngăn trở Giáo luật nên trong trường hợp giữa một người Công giáo và một người lương dân, ngăn trở chỉ hiện diện khi người Công Giáo thi hành việc sát nhân; nếu người lương dân thi hành việc sát nhân này thì không bị coi là ngăn trở.

2. Trường hợp cả hai người âm mưu:

Nếu cả hai người đang chủ tâm sẽ kết hôn với nhau, đồng âm mưu gây nên cái chết của người đang là người phối ngẫu của họ, dù trực tiếp hay gián tiếp, ngăn trở này được hiểu là sẽ áp đặt lên cả hai người. Do đó, ngăn trở vẫn hiện diện cho dù một người là Công Giáo và người kia là lương dân.

Ngăn trở này chỉ có Toà Thánh mới có quyền miễn chuẩn (xem c.1078,2). Tuy nhiên, trong trường hợp nguy tử, Bản Quyền sở tại có thể miễn chuẩn (xem c.1079). và nếu trong trường hợp nguy tử nhưng không thể liên lạc với Bản Quyền được, những tư tế và phó tế chủ hôn hợp lệ cũng có năng quyền miễn chuẩn.

Nếu ngăn trở còn trong vòng kín đáo, bất cứ Cha giải tội nào cũng có năng quyền miễn chuẩn.

244.- NGĂN TRỞ HỌ HÀNG HUYẾT TỘC.

"Trong trực hệ, hôn phối giữa tất cả thân thuộc, dù chính thức hay tự nhiên, đều vô hiệu. Trong bàng hệ, hôn phối vô hiệu cho đến cấp thứ bốn.

Ngăn trở về huyết tộc không nhân cấp.

Không bao giờ được cho phép kết hôn, khi có hoài nghi đôi bên cùng có liên hệ huyết tộc, trong bất cứ cấp nào của trực hệ hay trong cấp thứ hai của bàng hệ.". (Can.1091).

Trực hệ là liên hệ hàng dọc giữa ông bà, cha mẹ, con cái; người này sinh ra hay là con cái, cháu chắt của người kia.

Theo luật tự nhiên, ngăn trở này buộc tất cả mọi người không phân biệt lương giáo. Những người họ hàng hàng dọc với nhau không thể kết hôn với nhau được và không ai có quyền miễn chuẩn. Bàng hệ là liên hệ hàng ngang giữa anh chị em, chú bác, cô dì, cậu...

Cấp liên hệ hàng ngang được tính như sau: Tùy theo sự xa cách với gốc chung, nhưng không tính gốc, cũng không tính con trai hay con gái. Thí dụ hai anh em ruột là hai cấp (tính từ người anh lên người cha là một cấp, rồi từ cha đến người em là một cấp nữa- ba người nhưng không tính gốc); Bác với cháu ruột là ba cấp (từ bác tới ông là một cấp, từ ông tới cha là một cấp, từ cha tới con là một cấp nữa- bốn người, nhưng không tính gốc). Liên hệ họ hàng giữa hai anh em con chứ, bác là liên hệ họ hàng 4 cấp.

Theo nguyên tắc phát sinh từ luật tự nhiên, anh chị em ruột (cấp thứ hai bàng hệ) không thể kết hôn với nhau được, nếu có nghi ngờ hai người có liên hệ trực hệ, hay cấp thứ hai của bàng hệ thì không được phép cho họ kết hôn với nhau.

Ngăn trở huyết tộc hiện diện trong trường hợp hôn phối giữa hai người có liên hệ họ hàng bàng hệ với nhau cho đến cấp thứ bốn.

Bản Quyền sở tại có thể miễn chuẩn ngăn trở bàng hệ từ cấp thứ ba. Trong trường hợp nguy tử và không thể liên lạc với Bản Quyền được, những giáo sĩ chủ hôn hợp lệ được năng quyền miễn chuẩn (xem c.1116; c.1079,2). Tuy nhiên, cần lưu ý tới luật lệ dân sự của địa phương, trong trường hợp có xung đột giữa Giáo luật và Dân luật, chủ hôn phải có phép của Bản Quyền sở tại. (xem c.1071,2).

245.- NGĂN TRỞ HỌ HÀNG HÔN THUỘC.

"Hôn thuộc theo trực hệ dù ở cấp nào cũng làm cho hôn phối vô hiệu.". (Can.1092).

Điều luật 109 qui định như sau:

Hôn thuộc là sự liên hệ họ hàng do Bí Tích Hôn Phối thành sự (validum) dù không hoàn hợp giữa người chồng với họ hàng bên vợ và giữa người vợ với họ hàng bên chồng. Cách tính này được đơn giản hóa bằng cách đặt người vợ vào vai trò người chồng hay ngược lại và tính theo điều 108: Một người có huyết tộc hai hay ba cấp trực hệ hay bàng hệ với người vợ, thì cũng có chừng ấy cấp độ với người chồng.

Khi vợ hay chồng của một người quá vãng, ngăn trở hôn thuộc chỉ còn hiện diện trong liên hệ hôn thuộc trực hệ, ngăn trở hôn thuộc không còn hiện diện giữa hôn thuộc bàng hệ, có nghĩa là chỉ cấm kết hôn với ông bà, cha mẹ, con cái, cháu chắt có liên hệ trực hệ với người phối ngẫu đã mệnh một, mà không cấm hôn phối với anh chị em, chú bác cô dì của người phối ngẫu đã mệnh một ấy.

Ngăn trở hiện diện không những giữa những liên hệ hợp pháp mà cả những liên hệ bất hợp pháp nữa (ngăn trở công hạnh hay còn gọi là ngăn trở liêm sỉ).

Vì đây là ngăn trở Giáo luật, nên đối với những người lương dân, ngăn trở chỉ hiện diện khi một trong hai người hay cả hai người rửa tội theo Công Giáo.

Bản Quyền sở tại có thể miễn chuẩn ngăn trở hôn thuộc này (xem c.1078). Trong trường hợp nguy tử và không thể liên lạc với Bản Quyền được, những Tư tế hay Phó tế chủ hôn hợp lệ cũng được năng quyền miễn chuẩn (xem c.1116; c.1079,2).

246.- NGĂN TRỞ CÔNG HẠNH.

"Ngăn trở về công hạnh phát sinh từ hôn phối vô hiệu sau khi đã có sự sống chung, hoặc sự tư tình công khai và hiển nhiên. Ngăn trở này tiêu hủy hôn phối trong trực hệ ở cấp thứ nhất, giữa người nam với những người có liên hệ huyết tộc với người nữ hay ngược lại.". (Can 1093).

Ngăn trở công hạnh hay còn gọi là ngăn trở liêm sỉ, phát sinh từ một hôn phối vô hiệu hay từ một cuộc sống chung công khai giữa hai người nam nữ, dù họ đã có vợ hay có chồng.

Hôn phối của họ vô hiệu có thể vì nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng vì không biết, nên họ vẫn sống chung như vợ chồng, sau đó được tuyên bố vô hiệu, kể cả những trường hợp hai người Công Giáo chỉ cử hành hôn phối dân sự, và sống chung với nhau như vợ chồng hay trường hợp công khai có vợ hai, vợ ba...

Ngăn trở công hạnh ngăn cấm hôn phối giữa người đàn ông với mẹ hay con gái của người đàn bà đã công khai sống chung với ông ta; hay hôn phối giữa người đàn bà với cha hay con trai của người đàn ông đã công khai sống chung với bà ta.

Vì đây là ngăn trở Giáo luật, nên đối với những người lương dân, ngăn trở chỉ hiện diện khi một trong hai người, hay cả hai người rửa tội theo Công Giáo.

Bản Quyền sở tại có thể miễn chuẩn ngăn trở công hạnh này (xem c.1078). Trong trường hợp nguy tử và không thể liên lạc với Bản Quyền được, những Tư tế hay Phó tế chủ hôn hợp lệ được năng quyền miễn chuẩn (xem c.1116; c.1079,2).

Theo luật, ngăn trở công hạnh vẫn còn hiện diện dù khi một trong hai người sống chung đã qua đời. Miễn chuẩn vẫn cần thiết để hôn phối được hữu hiệu khi người còn lại muốn kết hôn với người có liên hệ trực hệ một cấp với người quá vãng.

247.- NGĂN TRỞ HỌ HÀNG DƯỠNG HỆ.

"Hôn phối vô hiệu giữa những người thân thuộc do dưỡng hệ đã được pháp luật nhìn nhận, trong trực hệ hay cấp thứ hai của bàng hệ.". (Can 1094).

Con cái được nuôi hợp với dân luật được coi như con của người hay của những người đứng nuôi (xem c.110)

Cần phân biệt: hợp dân luật (có giấy tờ hợp lệ) và không hợp dân luật (chỉ nhận nuôi mà không qua một thủ tục hành chánh nào). Nếu dân luật qui định ngăn trở này là loại ngăn trở nào, Giáo Hội cũng áp dụng (thích ứng) qui định ấy. Nếu luật dân sự không qui định gì cả, thì theo Giáo luật, ngăn trở hôn phối hiện diện trong liên hệ trực hệ (cha hay mẹ nuôi không được phép kết hôn với người con nuôi) hay cấp thứ hai của bàng hệ (con ruột của người đứng nuôi không được phép kết hôn với người con nuôi hay ngược lại).

Đây là ngăn trở ngăn cấm hôn phối, do đó nếu được cử hành, hôn phối thành sự nhưng không hợp pháp. Tuy nhiên, các Tư tế hay Phó tế chủ sự không được phép cử hành khi không có phép của Bản Quyền (xem c.1071,1).

Bản Quyền sở tại có thể miễn chuẩn ngăn trở dưỡng hệ này (xem c.1078). Trong trường hợp nguy tử và không thể liên lạc với Bản Quyền được, những Tư tế hay Phó tế chủ hôn hợp lệ cũng được năng quyền miễn chuẩn (xem c.1116; c.1079,2).

 


 
Top