home

Cẩm nang Giáo Luật Thực Dụng : Mục Lục

TẬP MỘT : NHỮNG NGUYÊN TẮC TỔNG QUÁT

Phần IV : Các tín hữu

25. Định nghĩa Tín hữu

26. Các Giáo dân

Do sự thiết lập của Thiên Chúa, giữa các tín hữu trong Giáo Hội, có các thừa tác viên có chức Thánh, trong luật gọi là các Giáo Sĩ; còn các người khác gọi là Giáo dân. (xem c.207)

Nghĩa vụ và quyền lợi của Giáo dân.

"Các giáo dân, ngoài những nghĩa vụ và quyền lợi chung dành cho tất cả các tín hữu Kitô giáo và những gì được ấn định trong các điều luật khác, họ còn có những nghĩa vụ và quyền lợi được nói tới trong những điều luật sau đây:.". (Can.224)

"Xét vì các giáo dân cũng như mọi tín hữu được Thiên Chúa ủy thác làm việc tông đồ do Phép Rửa Tội và Phép Thêm Sức, nên họ có nghĩa vụ tổng quát và có quyền lợi xét từng cá nhân hoặc kết hợp thành hiệp hội, phải làm sao để sứ điệp cứu rỗi của Thiên Chúa được mọi người khắp thế giới biết đến và đón nhận. Nghĩa vụ này lại càng thôi thúc hơn trong những hoàn cảnh mà chỉ có thể nhờ các giáo dân, người ta mới có thể nghe theo Phúc Âm và biết Đức Kitô.

Tùy theo điều kiện riêng của từng người, các giáo dân cũng có bổn phận phải làm thấm nhập và kiện toàn trật tự trần thế với tinh thần Phúc Âm; và như vậy, họ làm chứng cho Đức Kitô, đặc biệt khi điều hành các sự việc trần thế cũng như lúc thi hành các chức vụ đời.". (Can.225)

"Những ai sống trong bậc vợ chồng theo ơn gọi riêng thì có bổn phận đặc biệt phải cố gắng xây dựng dân Chúa qua hôn nhân và gia đình.

Các cha mẹ, vì truyền thụ sự sống cho con cái nên có nghĩa vụ rất nghiêm trọng và quyền lợi giáo dục chúng. Vì thế, trách nhiệm đầu tiên của các cha mẹ Kitô giáo là lo bảo đảm sự giáo dục Kitô giáo cho các con cái hợp với giáo huấn của Giáo Hội.". (Can.226)

"Các giáo dân có quyền được nhìn nhận sự tự do dành cho mọi công dân trong lãnh vực trần thế. Nhưng khi xử dụng quyền tự do này, họ phải lo sao cho mọi hành động của họ được thấm nhập bằng tinh thần Phúc Âm, và họ phải để ý đến đạo lý do quyền giáo huấn của Giáo Hội đề ra, tuy phải tránh trình bày ý kiến riêng của mình trong vấn đề còn đang được tranh luận như là giáo huấn của Giáo Hội.". (Can227).

"Các giáo dân nào được nhận thấy có khả năng thì có năng cách để các chủ chăn mời đảm nhận các chức vụ trong Giáo Hội và các nhiệm vụ mà họ có thể hành sử được chiếu theo qui tắc luật định.

Các giáo dân nào xuất sắc trong sự hiểu biết, khôn ngoan và thanh liêm thì có năng lực để giúp đỡ các chủ chăn của Giáo Hội với tư cách chuyên viên hoặc cố vấn, kể cả trong các Hội Đồng Tư Vấn theo các qui tắc luật định." (Can.228).

Các giáo dân thuộc nam giới có đủ tuổi và điều kiện do nghị định của Hội Đồng Giám Mục ấn định, có thể lãnh tác vụ đọc sách hoặc giúp lễ qua một qui tắc phụng vụ đã qui định. Tuy nhiên, việc trao tác vụ này không cho họ quyền được Giáo Hội trợ cấp hoặc trả lương.

Các giáo dân có thể được chỉ định tạm thời đảm nhiệm việc đọc sách trong các việc phụng vụ. Cũng thế, tất cả các giáo dân có thể thi hành công tác của người chú giải, ca trưởng hoặc những công tác khác theo qui tắc luật định.

Nơi nào nhu cầu Giáo Hội đòi hỏi và thiếu thừa tác viên, thì các giáo dân dù không có tác vụ đọc sách và giúp lễ, cũng có thể thay thế họ làm một số việc, tỉ như thi hành tác vụ Lời Chúa, chủ tọa các buổi cầu nguyện, rửa tội và cho rước lễ theo các qui tắc luật định." (Can.230)

27. Các Hiệp Hội của các tín hữu

(De Christifidelibus consociationibus)

"Trong Giáo Hội có nhiều Hiệp Hội khác với các Hội Dòng Tận Hiến và các Tu Đoàn Tông Đồ, trong đó gồm những tín hữu, giáo sĩ hay giáo dân, hoặc gồm cả giáo sĩ và giáo dân chung nhau hoạt động, cố gắng tìm cách sống đời hoàn thiện hơn, hoặc cổ động phụng tự công cộng hay đạo lý Kitô giáo, hoặc lo thực hành các việc tông đồ khác như truyền bá Phúc Âm, công tác đạo đức hoặc bác ái, thấm nhuần tinh thần Kitô giáo vào trật tự trần gian.

Các tín hữu nên ghi tên vào các Hiệp Hội nào đã được nhà chức trách có thẩm quyền trong Giáo Hội thành lập, ban khen hoặc giới thiệu.". (Can.298).

Một Hiệp Hội như vừa nêu trên dù đã được Giáo quyền khen thưởng hoặc giới thiệu, vẫn là một Hiệp Hội tư. Không một Hiệp Hội tư nào được thừa nhận trong Giáo Hội, nếu nội qui của Hiệp Hội không được duyệt y do nhà chức trách có thẩm quyền. (xem c.299).

"Không một Hiệp Hội nào được mang danh là Công Giáo nếu không được sự đồng ý của nhà chức trách có thẩm quyền trong Giáo Hội.(Can.300).

Các Hiệp Hội tín hữu được gọi là "giáo sĩ", nếu trực tiếp do các giáo sĩ điều hành, đảm nhận việc thi hành thánh chức, và đã được nhà chức trách có thẩm quyền nhìn nhận như vậy.". (Can.302).

"Được gọi là Dòng Ba hay với tên nào khác tương tự các Hiệp Hội gồm các thành viên sống giữa đời, nhưng dự phần vào tinh thần thiêng liêng với một Dòng tu, làm việc tông đồ và tiến tới sự toàn thiện dưới sự điều hành tối cao của Dòng tu đó.". (Can.303).

"Nhà chức trách có thẩm quyền thành lập các Hiệp Hội Công là:

1. Tòa Thánh đối với các Hiệp Hội có tính cách hoàn vũ và quốc tế;

2. Hội Đồng Giám Mục, trong lãnh thổ của mình, đối với các Hiệp Hội quốc gia, tức là các Hiệp Hội được thành lập để hoạt động trong toàn quốc;

3. Giám Mục giáo phận, trong lãnh thổ của mình, đối với các Hiệp Hội thuộc giáo phận; tuy nhiên, Giám Quản giáo phận không có thẩm quyền này; đừng kể những Hiệp Hội mà quyền thành lập đã được dành cho những người khác do đặc ân Tòa Thánh.

Để thành lập hữu hiệu một Hiệp Hội hoặc chi nhánh của Hiệp Hội trong giáo phận, cần phải có sự đồng ý bằng giấy tờ của Giám Mục giáo phận, dù trong trường hợp sự thành lập được cấp do đặc ân Tòa Thánh. Tuy nhiên, sự đồng ý của Giám Mục giáo phận cho phép lập một tu viện cũng có giá trị cho việc thành lập trong chính tu viện hay ở nhà thờ kế cận, một Hiệp Hội riêng của Dòng ấy.". (Can.312).

"Những ai điều khiển các Hiệp Hội giáo dân, kể cả các Hiệp Hội được thành lập do đặc ân Tòa Thánh, hãy lo để các Hiệp Hội của mình cộng tác với các Hiệp Hội khác và ở đâu thấy thuận lợi, hãy sẵn lòng giúp đỡ các công cuộc Kitô giáo khác, nhất là các công cuộc hiện đang có trong cùng lãnh thổ.". (Can.328)

"Các chủ tịch của các Hiệp Hội giáo dân phải lo liệu cho các Hội viên được đào tạo tương xứng để thi hành hoạt động tông đồ riêng của các giáo dân.". (Can.329).

28. Các Giáo sĩ

Các giáo sĩ là những tín hữu đã được trao ban chức Thánh một cách hữu hiệu và hợp lệ theo qui tắc luật định. Luật cũ gọi là giáo sĩ những người đã chịu phép cắt tóc. Nhưng sau Công Đồng Vaticano II, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã chỉnh đốn lại các chức nhỏ trong Tự Sắc "Ministeria Quaedam" (15/8/1972) , và quyết định chỉ những người đã lãnh nhận chức Phó Tế mới được coi là giáo sĩ. Qua Tự Sắc này, các chức nhỏ và chức Phụ Phó tế bị bãi bỏ.

Thay vào đó, Giáo Hội Latin chỉ còn hai thừa tác vụ: Thừa Tác Vụ Đọc Sách và Thừa Tác Vụ Giúp Lễ, nhưng những người lãnh nhận hai thừa tác vụ này không được coi là giáo sĩ. Các giáo sĩ được đặt lên để đảm nhận những công tác cơ yếu của Giáo Hội (giảng dạy, ban Bí tích, Quản trị...), song họ không độc quyền cáng đáng tất cả các công tác trong Giáo Hội. Các giáo sĩ cần được sự trợ lực của các giáo dân để lo việc chung của Giáo Hội.

29. Sự đào tạo Giáo sĩ

"Giáo Hội có nghĩa vụ và quyền lợi riêng biệt và độc hữu đào tạo các người được trạch cử vào tác vụ thánh.". (Can.232)

"Toàn thể cộng đoàn Kitô giáo có nghĩa vụ cổ động ơn gọi, hầu cung cấp đầy đủ cho nhu cầu các tác vụ thánh trong toàn thể Giáo Hội. Nghĩa vụ này bó buộc cách riêng các gia đình Công Giáo, các nhà giáo dục, đặc biệt là các Linh mục, nhất là các Cha Sở. Các Giám Mục giáo phận, những người phải lo cổ động ơn gọi hơn ai hết, hãy dạy cho dân đã được giao phó cho mình về sự cao trọng của tác vụ thánh và sự cần thiết của các thừa tác viên có chức thánh trong Giáo Hội; các vị hãy phát động và nâng đỡ các sáng kiến cổ động ơn gọi, nhất là qua các cơ sở đã được thành lập nhằm mục tiêu ấy.

Ngoài ra, các Linh mục, nhất là các Giám Mục giáo phận phải để tâm lo cho những người đã đứng tuổi và cảm thấy được gọi vào tác vụ thánh, sao cho những người ấy được giúp đỡ khôn khéo bằng lời nói và bằng hành động, và được chuẩn bị xứng đáng.". (Can.233)

A.- Các Tiểu Chủng viện:

"Ở đâu đã có, thì hãy duy trì và cổ động các Tiểu chủng viện hay các tổ chức tương tự nhằm cổ võ ơn gọi qua việc đào tạo đạo đức riêng biệt cũng như giáo dục về nhân bản và khoa học. Thậm chí, ở đâu các Giám Mục giáo phận xét thấy lợi, thì nên tiến tới việc thành lập Tiểu chủng viện hoặc một học hiệu tương tự.

Ngoại trừ những trường hợp cụ thể đòi hỏi phải làm cách khác, các thanh thiếu niên ước muốn tiến lên chức Linh mục cần được hấp thụ một nền giáo dục nhân bản và khoa học, tương tự với thanh thiếu niên chuẩn bị vào cấp học cao đẳng tại địa phương mình.". (Can.234)

B.- Các Đại Chủng viện:

"Khi có thể được và xét thấy thuận lợi, trong mỗi giáo phận nên có một Đại Chủng viện; nếu không, các ứng sinh chuẩn bị tác vụ thánh sẽ được gửi trong các Chủng viện khác, hoặc sẽ thành lập một Chủng viện liên giáo phận. Chủng viện liên giáo phận chỉ được thành lập do Hội Đồng Giám Mục-nếu là Chủng viện cho toàn thể lãnh thổ, hoặc do các Giám Mục liên hệ-nếu không dành cho toàn lãnh thổ, sau khi đã được Tòa Thánh phê chuẩn cả về việc thành lập cũng như về quy chế của chính chủng viện.". (Can.237).

Các thanh niên ước muốn tiến lên chức Linh mục phải được hấp thụ sự huấn luyện về mặt thiêng liêng thích hợp và về các chức vụ riêng trong Đại chủng viện trong suốt thời gian huấn luyện, hoặc ít là trong bốn năm, nếu hoàn cảnh đòi hỏi như vậy theo nhận định của Giám Mục.

Những ai được trọ ở ngoài chủng viện cách hợp pháp, thì Giám Mục giáo phận cần cử một Linh mục đạo đức có khả năng để phụ trách họ được huấn luyện kỹ lưỡng về đời sống đạo đức và về kỷ luật.". (Can.235).

"Trong mỗi Chủng viện cần có một Giám Đốc đứng đầu, và nếu cần, một Phó Giám Đốc, một Quản Lý và, nếu các chủng sinh theo học ở trong chính Chủng viện thì cả các giáo sư dạy các môn học khác nhau theo một chương trình được sắp xếp quy củ.

Trong mỗi Chủng viện, ít ra phải có một Cha Linh hướng. Tuy nhiên, các chủng sinh được tự do lui tới với các Linh mục khác đã được Giám Mục trạch cử vào trách vụ đó.

Trong nội quy của Chủng viện, cần ấn định phương thức, nhờ đó các vị điều hành khác, các giáo sư và ngay cả chính các chủng sinh đều có thể chia sẻ trách nhiệm với Giám Đốc, nhất là trong việc duy trì kỷ luật.". (Can.239)

"Ngoài các Cha giải tội thường xuyên, các Cha giải tội khác nên tới Chủng viện cách đều đặn; và trong khuôn khổ kỷ luật của Chủng viện, các chủng sinh luôn có thể đến với bất cứ Cha giải tội nào ở trong hoặc ở ngoài Chủng viện.

Khi phải quyết định về việc chấp nhận các ứng sinh tiến chức hoặc là thải hồi họ ra khỏi Chủng viện, không bao giờ được hỏi ý kiến của cha Linh hướng và của các Cha giải tội.". (Can.240).

"Giám Mục Giáo phận chỉ nên thâu nhận vào Đại chủng viện những người nào xét theo các đức tính nhân bản và luân lý, đạo hạnh và trí tuệ, sức khoẻ thể lý và tâm lý cùng ý muốn ngay thẳng của họ, được coi là có đủ khả năng hiến thân trọn đời cho các tác vụ thánh.

Trước khi được thâu nhận, họ phải xuất trình chứng thư Rửa Tội và Thêm Sức, cũng như các văn kiện khác theo sự đòi hỏi của chương trình đào tạo Linh mục. Khi muốn thâu nhận các chủng sinh đã bị sa thải bởi một Chủng viện khác hoặc bởi một Dòng tu, thì còn cần thêm chứng thư của Bề trên liên hệ, nhất là về lý do của sự sa thải hoặc sự rời bỏ.". (Can.241).

"Trong mỗi quốc gia, cần có chương trình đào tạo Linh mục do Hội Đồng Giám Mục soạn thảo, căn cứ trên qui tắc do thẩm quyền tối cao của Giáo Hội ấn định, và được Tòa Thánh phê chuẩn. Chương trình ấy cần được thích nghi cho hợp với hoàn cảnh mới, với sự phê chuẩn của Tòa Thánh. Trong chương trình đào tạo cần phải xác định những nguyên tắc chính yếu về việc đào tạo trong Chủng viện và những nguyên tắc tổng quát được thích nghi với nhu cầu mục vụ của từng miền hoặc từng tỉnh. (xem c.242)

"Nhờ sự đào tạo về đạo đức, các chủng sinh trở thành những người đủ khả năng thi hành sứ mệnh mục vụ với kết quả phong phú và được huấn luyện về tinh thần truyền giáo, biết thâm trí rằng sự luôn luôn chu toàn chức vụ với niềm tin sống động và đức ái sẽ giúp họ thánh hóa bản thân. Ngoài ra các chủng sinh hãy vun trồng những đức tính nhân bản cần thiết cho sự sống trong xã hội, sao cho họ biết dung hòa với những giá trị nhân bản với giá trị siêu nhiên.

Các chủng sinh cần được đào luyện để có lòng yêu mến Giáo Hội của Đức Kitô, kết hợp với Đức Thánh Cha, Người kế vị Thánh Phêrô, với tấm lòng khiêm nhượng và thảo hiếu, gắn bó với Giám Mục riêng của mình như những người cộng sự trung thành và biết kết hợp với anh em đồng nghiệp. Nhờ sự sống chung trong Chủng viện và nhờ sự liên lạc bằng hữu với các bạn đồng môn, họ được chuẩn bị cho có tinh thần hợp nhất huynh đệ với các Linh mục đoàn trong giáo phận mà họ sẽ là thành phần nhằm phục vụ Giáo Hội.". (Can.245).

"Việc cử hành thánh lễ phải là trọng tâm cho cả đời sống của Chủng viện, nhờ vậy mà hàng ngày khi thông hiệp vào tình bác ái của Đức Kitô, các chủng sinh múc lấy từ nguồn suối phong phú này, sức mạnh cho công việc tông đồ và cho đời sống đạo đức của họ.

Họ cần được tập luyện cử hành phụng vụ các giờ kinh, nhờ đó các thừa tác viên của Thiên Chúa, nhân danh Giáo Hội, cầu khẩn Thiên Chúa cho toàn dân đã giao phó cho họ và cho toàn thể thế giới nữa.

Họ hãy được khuyến khích tôn kính Đức Trinh Nữ Maria kể cả việc lần hạt Mân côi, việc tâm nguyện và đạo đức khác, nhờ đó các chủng sinh thủ đắc tinh thần cầu nguyện và được vững tâm bước theo ơn gọi.

Các chủng sinh hãy năng xưng tội thường xuyên; ngoài ra nên khuyến khích mỗi chủng sinh hãy có một Cha linh hướng do mình lựa chọn và có thể tin cậy cởi mở lương tâm với người.

Hằng năm, các chủng sinh phải lo tĩnh tâm.". (Can.246).

"Nhờ sự giáo dục thích hợp, các chủng sinh cần được sống bậc độc thân và cần học hỏi để được quý trọng nó như một hồng ân đặc biệt của Thiên Chúa.

Các chủng sinh cần phải ý thức rõ rệt về mọi bổn phận và gánh nặng dành cho các thừa tác viên có chức thánh của Giáo Hội, không nên giấu diếm gì về những khó khăn của đời sống Linh mục.". (Can.247).

"Sự đào tạo về luân lý nhằm giúp cho các chủng sinh thâu đạt, cùng với nền văn hóa tổng quát thích ứng với các nhu cầu của mỗi nơi, mỗi thời, một nền đạo lý sâu rộng và chắc chắn về các môn học thánh, để khi Đức Tin đã đặt nền tảng và được nuôi dưỡng bởi môn đó, các chủng sinh có thể loan truyền đạo lý Phúc Âm cách thích hợp cho những người thời đại của mình, hợp với tâm trạng của họ. ". (Can.248).

"Các môn Triết học và Thần học trong một chủng viện có thể được dạy kế tiếp nhau hoặc đồng thời với nhau tùy theo chương trình đào tạo Linh mục. Hai khoa học ấy phải được bao trùm ít nhất là sáu năm trọn: hai năm dành cho Triết học và bốn năm dành cho Thần học.". (Can.250).

C.- Chức Phó tế vĩnh viễn:

"Các ứng viên lên chức Phó tế vĩnh viễn cần được huấn luyện để nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng và để chu toàn bổn phận riêng của chức thánh, tùy theo qui định của Hội Đồng Giám Mục.

Các ứng viên trẻ tuổi phải qua thời gian đào tạo ít nhất là ba năm tại một nhà riêng biệt, trừ khi Giám Mục giáo phận ấn định cách khác vì lý do trầm trọng.

Các ứng viên lớn tuổi, độc thân hay đã kết bạn, phải theo chương trình kéo dài ba năm do Hội Đồng Giám Mục ấn định.". (Can.236).

30. Nhập tịch Giáo sĩ

"Bất cứ giáo sĩ nào cũng phải nhập tịch hoặc vào một Giáo Hội địa phương hay vào một phủ Giám Chức tòng nhân hoặc vào một Dòng tu nào hoặc một Tu đoàn hưởng năng quyền ấy; bởi đó, không chấp nhận các giáo sĩ không có Bề trên hoặc lang thang.". (Can.265).

Do việc lãnh chức Phó tế, một người trở thành giáo sĩ và được nhập tịch vào Giáo Hội địa phương hoặc một phủ Giám Chức tòng nhân mà họ được tiến chức để phục vụ. Một phần tử đã khấn trọn đời trong một Dòng tu hoặc đã gia nhập vĩnh viễn vào một Tu đoàn tông đồ giáo sĩ, khi lãnh chức Phó tế thì sẽ nhập tịch như một giáo sĩ vào Dòng tu hay vào Tu đoàn ấy, chỉ trừ khi Tu đoàn có hiến pháp qui định cách khác.

Một phần tử của một Tu Hội đời, khi đã chịu chức Phó tế sẽ nhập tịch vào Giáo Hội địa phương nơi họ được tiến cử để phục vụ, trừ khi được Tòa Thánh chuẩn nhượng cho nhập tịch vào chính tu Hội.". (Can.266).

"Để một giáo sĩ đã nhập tịch, được nhập tịch hữu hiệu vào một Giáo Hội địa phương khác, cần phải có văn thư xuất tịch do chính Giám Mục giáo phận ký nhận và đồng thời phải có văn thư nhập tịch, được ký nhận bởi Giám Mục giáo phận của Giáo Hội tại địa phương, nơi mà giáo sĩ ước muốn nhập tịch. Sự xuất tịch được cấp, chỉ có hiệu lực kể từ khi thủ đắc sự nhập tịch vào Giáo Hội địa phương khác.". (Can.267).

"Giáo sĩ nào đã được thuyên chuyển hợp lệ từ Giáo Hội địa phương riêng của mình, qua một Giáo Hội địa phương khác, thì sau năm năm chẵn, sẽ được nhập tịch do luật định vào Giáo Hội địa phương này, nếu đương sự viết đơn tỏ ý muốn của mình với Giám Mục giáo phận đã đón tiếp mình và không ai trong hai người thông báo sự phản kháng bằng giấy tờ trong thời gian bốn tháng kể từ ngày nhận đơn.

Giáo sĩ nào đã được nhập tịch vào một Dòng tu hoặc Tu đoàn tông đồ theo điều 266,2 thì được kể là sẽ xuất tịch khỏi Giáo Hội địa phương riêng của mình do việc thu nhận trọn đời hay vĩnh viễn vào Dòng tu hay Tu đoàn.". (Can.268).

"Giám Mục giáo phận chỉ nên tiến hành việc nhập tịch của một giáo sĩ khi:

1. Nhu cầu ích lợi của Giáo Hội địa phương của ngài đòi hỏi, và tuân hành các luật lệ liên quan tới việc chu cấp xứng hợp cho giáo sĩ.

2. Chắc chắn đã có văn kiện hợp lệ cho phép xuất tịch, và hơn nữa, đã được Giám Mục giáo phận cho xuất tịch cung cấp những tin tức cần thiết cách bí mật nếu thấy là cần, về đời sống, tư cách và học lực của giáo sĩ.

3. Giáo sĩ đã tuyên bố, bằng giấy tờ cho Giám Mục giáo phận rằng mình muốn hiến thân phục vụ Giáo Hội địa phương mới đứng như luật định.". (Can.269)

"Sự xuất tịch chỉ có thể ban cấp cách hợp pháp khi có lý do chính đáng, chẳng hạn như lợi ích của Giáo Hội hoặc một điều tốt cho chính giáo sĩ. Sự xuất tịch không thể bị khước từ nếu không có lý do quan trọng. Tuy nhiên, giáo sĩ nào khi cảm thấy mình bị thiệt thòi và đã tìm được một Giám Mục đón nhận, thì có thể thượng tố phản kháng quyết định khước từ.". (Can.270).

"Ngoài trường hợp thật cần thiết cho Giáo Hội địa phương riêng, Giám Mục giáo phận không nên khước từ sự thuyên chuyển cho các giáo sĩ mà ngài biết là họ sẵn sàng và đủ khả năng, để làm việc những nơi khan hiếm trầm trọng giáo sĩ, ngõ hầu họ thi hành tác vụ thánh ở đó. Tuy nhiên, Giám Mục nên dự liệu qua một hợp đồng với Giám Mục giáo phận tại nơi mà họ sẽ đến để các quyền lợi và bổn phận của các giáo sĩ ấy được xác định.

Giám Mục giáo phận có thể cho phép các giáo sĩ của mình tới một Giáo Hội địa phương khác trong thời gian nhất định, tuy có thể triển hạn nhiều lần, nhờ đó các giáo sĩ vẫn tiếp tục nhập tịch tại địa phương riêng của mình, và khi trở về họ vẫn được hưởng mọi quyền lợi, dường như họ đã phục vụ với tư cách thừa tác viên có chức thánh tại đây.

Giáo sĩ đã thuyên chuyển qua một Giáo Hội địa phương khác cách hợp lệ song vẫn giữ sự nhập tịch trong Giáo Hội gốc, thì có thể bị Giám Mục giáo phận triệu hồi khi có lý do chính đáng, miễn là phải tôn trọng hợp đồng đã thỏa thuận với Giám Mục kia cũng như sự công bình tự nhiên. Cũng vậy, miễn là tuân giữ mọi điều kiện trên, Giám Mục giáo phận của địa phương khác, khi có lý do chính đáng có thể khước từ sự cho phép giáo sĩ lưu lại trong lãnh thổ của mình.". (Can.271)

"Giám Quản giáo phận không được cho phép xuất tịch hoặc nhập tịch, cũng không được cho phép thuyên chuyển qua một Giáo Hội địa phương nào khác, chỉ trừ khi Tòa Giám Mục trống ngôi đã quá một năm và có sự đồng ý của Hội Đồng Tư Vấn. ". Can.272).

31. Các Tu sĩ

"Trong cả hai thành phần tín hữu: giáo dân và giáo sĩ, có những tín hữu tận hiến cho Thiên Chúa một cách đặc biệt và đóng góp vào sứ mệnh cứu rỗi của Giáo Hội bằng việc tuyên giữ các lời khuyên Phúc Âm qua lời khấn hoặc qua mối dây ràng buộc thánh thiện khác, được Giáo Hội công nhận và phê chuẩn. Hàng ngũ của họ không thuộc về cơ cấu phẩm trật của Hội Thánh, nhưng thuộc về đời sống và sự Thánh thiện của Giáo Hội.". (Can.207)

Do đó, giữa hai thành phần giáo sĩ và giáo dân còn có một thành phần khác, đó là thành phần tu sĩ. Tu sĩ là những thành viên của các Hội dòng, nhưng không có chức thánh.

32. Các Hội Dòng

Bộ Giáo luật 1983 phân biệt ba loại Hội dòng:

1. Các Dòng Tu (Instituta religiosa) : Các Dòng Tu cam kết giữ ba Lời Khuyên Phúc Âm qua lời khấn công khai. Ngoài ra, họ còn sống chung với nhau, làm chứng tá cho Chúa thể hiện qua đời sống chung trong các cộng đoàn.

2. Các Tu Hội đời (Instituta saecularia) : Các Tu Hội đời cam kết giữ ba Lời Khuyên Phúc Âm không hẳn qua lời khấn công, nhưng có thể qua lời hứa, lời thề hay lời khấn tư. Họ không sống đời sống chung, họ làm chứng tá cho Chúa cách tư riêng, trong nghề nghiệp, qua nếp sống hằng ngày giống như những người thường khác.

3. Các Hội Dòng Tông Đồ (Societates Vitae Apostolicae): Không khấn công khai ba Lời Khuyên Phúc Âm, nhưng chỉ có lời hứa hay lời khấn tư. Tuy nhiên, họ sống chung với nhau thành cộng đoàn.

Lời khấn được gọi là công khai (publica) , nếu được Bề trên hợp pháp chấp nhận nhân danh Giáo Hội; đối lại là lời khấn tư (privata). (xem c.1192)

Lời khấn được gọi là trọng thể (solemnitates) , nếu được Giáo Hội nhìn nhận như vậy; đối lại là lời khấn đơn thường (simplicitatis) . (xem c.1192)

 


 
Top