home

Cẩm nang Giáo Luật Thực Dụng : Mục Lục

TẬP BỐN: NHIỆM VỤ THÁNH HÓA CỦA GIÁO Hội

PHẦN II. CÁC Á BÍ TÍCH.

300.- ĐỊNH NGHĨA Á BÍ TÍCH.

"Các Á Bí Tích là những dấu chỉ thánh, phỏng theo phần nào các Bí tích, nhờ đó nhiều hiệu quả, nhất là hiệu quả thiêng liêng, được biểu thị và được thông ban do lời cầu khẩn của Giáo Hội.". (Can.1166).

Bộ luật 1983 qui định là những Á Bí tích những dấu chỉ thánh một phần nào giống các Bí tích nên cũng đưa đến những hiệu quả thiêng liêng cho phần linh hồn (xem thêm c.840). Những vật thể như tràng hạt, áo choàng vai (còn gọi là áo Đức Bà), nước... sau khi làm phép, đã được trao cho một ấn tích thánh, vì thế, chứng tạo nên những hiệu quả thiêng liêng cho người xử dụng chúng.

Những hiệu quả thánh từ các Á Bí tích khác với các hiệu quả có thể có được từ lời cầu nguyện hay khi làm các việc lành. Lời cầu nguyện hay các việc lành được làm đưa đến hiệu quả tùy thuộc vào tâm thức và ý ngay lành của chính người thực hiện chứng. Trong khi các Á Bí tích, ngoài ý thức của người thực hiện, còn có sự can thiệp của Giáo Hội, giao hòa ý của người thực hiện với thiện ý của toàn thể Hội Thánh. Do đó, một cách chính thức, Á Bí tích được coi như những nguồn đạo đức tạo nên ảnh hưởng thiêng liêng ích lợi cho phần rỗi các linh hồn.

Không một dấu hiệu nào hay một vật thể nào được coi là có hiệu quả của những Á Bí tích nếu không được Tòa Thánh qui định, chấp thuận hay phê chuẩn. Do đó:

"Chỉ duy Tòa Thánh, mới có thể thiết lập các Á Bí Tích mới, hoặc giải thích cách chính thức những Á Bí Tích hiện hành, phế bỏ hay thay đổi một vài thứ. Khi cử hành hay ban các Á Bí Tích, phải cẩn thủ các nghi lễ và các mô thức đã được giáo quyền chuẩn y.". (Can.1167).

Cũng tương tự như chính các Bí tích, Á Bí tích cũng đã được luật phụng vụ qui định những mô thức và nghi lễ, khi cử hành, các thừa tác viên phải tuân theo các qui luật đã được ấn định này.

301.- THỪA TÁC VIÊN Á BÍ TÍCH.

"Thừa tác viên của Á Bí Tích là giáo sĩ nào có quyền hành do luật đòi hỏi. Tuy nhiên, tùy theo qui định của sách phụng vụ và phán quyết của Bản Quyền sở tại, những giáo dân có những tư cách xứng hợp cũng có thể ban một số các Á Bí Tích.". (Can.1168).

"Chỉ những người có chức Giám mục và các Linh mục được luật pháp hay một sự ủy nhiệm hợp lệ cho phép, mới có thể cử hành việc thánh hiến và cung hiến cách hợp lệ.

Mọi Linh mục đều có thể ban các phép lành, trừ những phép lành được dành riêng cho Đức Giáo Hoàng hoặc cho các Giám Mục. Phó tế chỉ có thể ban những phép lành mà giáo luật đã minh thị cho phép. ". (Can.1169).

Có thể phân biệt hai loại Á Bí tích:

- Á Bí tích nhất thời: Như Phép lành...(ban ơn một lần).

- Á Bí tích thường trực: (được thiết lập sau Á Bí tích nhất thời) như Nước Thánh, tràng hạt, áo Đức Bà...(ban ơn thường trực).

Thừa tác viên Á Bí tích là những người có thẩm quyền thực hiện các Á Bí tích: (là người làm phép nước Thánh chứ không phải là người xử dụng nước Thánh).

Để trở thành Thừa tác viên của các Á Bí tích, các giáo sĩ phải có quyền hành theo luật. Quyền hành này do Giáo Hội ban. Vì thế, Giáo Hội cũng có quyền cấm chế hay rút lại quyền đã ban. Theo Bộ luật mới này, Giáo Hội cấm chỉ những người đã bị vạ tuyệt thông (xem c.1331,2-3), hay đã bị vạ cấm chế (xem c.1332) không được quyền ban phát hay lãnh nhận Á Bí tích.

NĂNG QUYỀN CỦA GIÁM MỤC:

- Á Bí tích Thánh hiến, được dành cho những người có chức Giám Mục. Các Linh mục có thể cử hành nghi thức Thánh hiến nếu được năng quyền này hoặc được ủy quyền hợp lệ (thí dụ thánh hiến các trinh nữ)

- Á Bí tích Cung hiến một thánh địa được dành riêng cho Giám Mục giáo phận và những người có thẩm quyền tương đương. Linh mục có thể ban Á Bí tích này trong những trường hợp đặc biệt. (xem c.1206).

- Làm phép một nơi thánh, Làm phép Thánh đường, dành riêng cho Bản Quyền Sở tại, tuy có thể được ủy quyền cho các Linh mục. (xem c.1207).

- Ban phép lành trong những dịp Hội họp hay lễ lạc có tính cách giáo phận với Phép Lành trọng thể.

NĂNG QUYỀN CỦA LINH MỤC:

- Làm phép các thể nhân, các vật thể hay các địa sở với ý hướng xin ơn Chúa trợ giúp để nhận lãnh một ơn ích thiêng liêng, trừ những trường hợp dành riêng cho Giám Mục hay Tòa Thánh.

- Ban phép lành trong những dịp Hội họp hay lễ lạc có tính cách giáo xứ hay Cộng đoàn được ủy nhiệm dưới quyền với các công thức được ghi trong sách "Nghi thức Rôma" dù là Phép lành trọng thể, trừ khi có sự hiện diện của Giám Mục.

NĂNG QUYỀN CỦA PHÓ T Ế:

- Làm phép nước khi ban Bí tích Rửa tội; làm phép nhẫn và ban phép lành hôn phối khi chứng hôn; làm phép huyệt khi cử hành nghi thức an táng theo Nghi thức phụng vụ.

NĂNG QUYỀN CỦA GIÁO D ÂN:

Các giáo dân cũng có thể là thừa tác viên của một số các Á Bí tích tùy theo sự qui định của Bản Quyền địa phương và sách Nghi thức Rôma như xức tro cho các tín hữu khác vào ngày thứ Tư Lễ Tro...

302.- BAN PHÉP LÀNH.

"Những phép lành được ban trước tiên cho những người Công Giáo; nhưng có thể ban cả cho các dự tòng, và hơn thế, cho cả các người ngoài Công Giáo, trừ khi Giáo Hội ngăn cấm.(Can.1170).

Trong ngày thứ Tư Lễ tro, ngay cả những người dự tòng và người ngoại giáo cũng có thể được xức tro, miễn là họ đã am tường ý nghĩa của Á Bí tích này.

303.- CUNG HIẾN.

"Các đồ vật đã được cung hiến hay làm phép để dùng vào việc phụng tự phải được xử dụng cách kính cẩn, không được dùng vào việc phàm tục hay bất xứng, cho dù những vật sở hữu ấy thuộc sở hữu của tư nhân.". (Can.1171).

Những đồ vật đã làm phép hay cung hiến, vĩnh viễn trở thành các vật dụng thánh, trừ khi những đồ vật ấy vì những lý do nào đó, không còn hình dạng lúc ban đầu, hay người ta không còn nhận diện được so với lúc được làm phép hay cung hiến. Trong trường hợp cần hủy bỏ một vật dụng thánh vì đã bị hư hại hay không còn dùng đến nữa, cũng nên xử dụng những phương thế tương xứng tùy theo xét đoán ngay lành. Tuy nhiên, không nên tạo gương mù, nhất là trước sự hiện diện của người ngoại giáo.

304.- TRỪ TÀ

"Không ai được trừ tà cách hợp pháp cho những người bị quỉ ám, nếu không được Bản Quyền Sở tại ban phép đặc biệt và minh thị. Bản Quyền Sở tại chỉ được ban phép này cho Linh mục đạo đức, nổi tiếng về học thức và khôn ngoan, cùng có một đời sống vẹn toàn.". (Can.1172).

Cần lưu ý những điều sau đây:

- Phải cẩn thận trong việc phán đoán trường hợp nào là trường hợp quỉ ám; không phải bất cứ một hoàn cảnh khác lạ nào cũng liệt kê vào việc quỉ ám. Có thể nhận định với một vài dấu hiệu như sau: Khi Danh Chúa Kitô bị xúc phạm; Khi các vật dụng thánh bị chà đạp; Khi phát ngôn thì ói mửa...

- Phải trình với Bản Quyền sở tại để xin ý kiến.

- Chỉ được phép trừ tà khi đã được Bản Quyền minh thị cho phép.


 
Top