home

Cẩm nang Giáo Luật Thực Dụng : Mục Lục

TẬP BỐN: NHIỆM VỤ THÁNH HÓA CỦA GIÁO Hội

CHƯƠNG VI : BÍ TÍCH TRUYỀN CHỨC THÁNH.

191.- Ý NGHĨA.

"Do Bí tích Truyền Chức đã được Chúa thiết lập, một số người giữa các tín hữu được đặt làm những thừa tác viên thánh với ấn tích không thể xóa nhòa, họ được cung hiến và trạch cử để, tùy theo cấp bậc, thay mặt Đức Kitô dẫn dắt Dân Chúa bằng cách chu toàn các nhiệm vụ giáo huấn, thánh hóa và cai trị.". (Can.1008)

"Các chức thánh là chức Giám Mục, chức Linh mục và chức Phó tế.

Các chức thánh được ban bằng việc đặt tay và lời nguyện cung hiến riêng mà sách phụng vụ đã qui định cho từng cấp.". (Can.1009)

Đức Giáo Hoàng Phaolô VI ngày 15-8-1972, qua Tự Sắc Ministeria Quaedam đã chỉnh đốn lại các chức nhỏ (xem số 28) và chỉ còn giữ lại Chức Giám Mục, Linh mục và Phó tế: Chỉ có một Bí Tích Truyền Chức Thánh mà thôi, tuy nhiên, có ba "cấp bậc" của Bí Tích ấy.

Chức Giám Mục và Linh mục dự phần trong ba nhiệm vụ (munera) : Thánh hóa, cai trị và rao giảng. Chức Phó tế được truyền để trợ giúp trong các tác vụ phụng vụ, rao giảng và làm việc bác ái.

Các tác vụ như Đọc sách và Giúp lễ chỉ được "đặt để tác vụ" chứ không phải được "truyền chức", vì các tác vụ này không phải là chức thánh.

192.- NƠI VÀ THỜI GIAN CỬ HÀNH

"Sự truyền chức phải được cử hành trong thánh lễ trọng thể ngày Chúa Nhật hay ngày lễ buộc. Tuy nhiên, vì lý do mục vụ, cũng có thể cử hành trong những ngày khác, kể cả những ngày thường.". (Can.1010)

"Lễ truyền chức thường thường nên được cử hành tại nhà thờ chính tòa. Tuy nhiên, vì lý do mục vụ, có thể cử hành tại nhà thờ hay nhà nguyện khác.

Trong ngày lễ truyền chức, phải mời các giáo sĩ và các tín hữu khác, để họ tham dự hết sức đông đảo có thể được.". (Can.1011)

193.- THỪA TÁC VIÊN.

"Thừa tác viên Bí tích Truyền Chức là Giám Mục đã được thụ phong.". (Can.1012)

Duy chỉ có Giám Mục đã được thụ phong mới có năng quyền truyền các chức thánh cho cả ba cấp bậc: Giám Mục, Linh mục và Phó tế.

194.- THÁNH CHỨC GIÁM MỤC.

"Không một Giám Mục nào được phép truyền chức Giám Mục cho ai khi chưa có ủy nhiệm thư của Đức Giáo Hoàng.". (Can.1013)

"Trừ khi có phép chuẩn của Tòa Thánh, trong lễ phong chức Giám Mục. Giám Mục chủ phong phải có ít là hai Giám Mục trợ phong; hơn nữa, cùng với các vị ấy, tất cả các Giám Mục hiện diện cũng nên cùng tấn phong người được tuyển chọn.". (Can.1014)

195.- CHỨC LINH MỤC VÀ CHỨC PHÓ TẾ.

"Mỗi người nên được truyền chức Linh mục hay Phó tế do Giám Mục riêng của mình, hoặc với thơ giới thiệu hợp lệ của ngài.

Nếu không bị cản trở vì lý do chính đáng, chính Đức Giám Mục riêng phải đích thân truyền chức cho những người thuộc quyền. Tuy nhiên, nếu không có đặc quyền của Tòa Thánh, ngài không thể truyền chức hợp pháp cho một người thuộc quyền nhưng theo lễ điển Đông Phương.

Ai có thể cấp thơ giới thiệu để chịu các chức thánh, thì cũng có thể tự mình truyền các chức ấy nếu đã có chức Giám Mục.". (Can.1015)

"Đối với việc truyền chức Phó tế cho những người có ý định gia nhập hàng giáo sĩ triều, thì Giám Mục riêng là Giám Mục của giáo phận nơi người tiến chức có cư sở; hay ở giáo phận nơi người tiến chức sẽ hiến thân phục vụ. Đối với việc truyền chức Linh mục cho các giáo sĩ triều, thì Giám Mục riêng là Giám Mục nơi người tiến chức đã nhập tịch khi chịu chức Phó tế.". (Can.1016)

"Ngoài khu vực thẩm quyền của mình. Giám Mục chỉ có thể truyền chức khi có phép của Giám Mục giáo phận.". (Can.1017)

196.- GIÁO SĨ TRIỀU

"Những người có thể cấp thơ giới thiệu cho giáo sĩ triều:

1. Giám Mục riêng như đã nói ở điều 1016;

2. Giám Quản Tông tòa và, với sự đồng ý của Hội Đồng Tư vấn, Giám Quản giáo phận. Quyền Đại diện Tông tòa và Quyền Phủ Doãn Tông tòa với sự đồng ý của Hội đồng nói ở điều 495, triệt 2. (xem số 69)

Giám Quản giáo phận, Quyền Đại diện Tông tòa và Quyền Phủ Doãn Tông tòa không được cấp thơ giới thiệu cho những người mà Giám Mục giáo phận hay Đại Diện tông tòa, hay Phủ Doãn Tông tòa đã từ chối không cho tiến chức.". (Can.1018)

197.- GIÁO SĨ DÒNG

"Bề trên cao cấp của một dòng tu giáo sĩ thuộc Luật giáo hoàng, hoặc của một tu đoàn giáo sĩ tông đồ thuộc Luật giáo hoàng, có thẩm quyền cấp thơ giới thiệu cho những người thuộc quyền được kết nạp trọn đời hay vĩnh viễn theo hiến pháp, vào dòng tu hay tu đoàn để họ được chịu chức Phó tế và chức Linh mục.

Việc truyền chức cho mọi phần tử khác, thuộc bất cứ một dòng tu hay tu đoàn nào, sẽ được chi phối bởi Luật dành cho giáo sĩ triều; mọi đặc ân đã được ban trước đây cho các Bề trên đều bị thu hồi.". (Can.1019)

198.- CHỨNG THƯ GIỚI THIỆU.

"Không được phép cấp thơ giới thiệu khi chưa có đủ những chứng thư và văn kiện mà Luật đòi hỏi theo các điều 1050 và 1051.". (Can.1020) (xem số 206)

"Có thể gửi thơ giới thiệu đến hết mọi Giám Mục hiệp thông với Tòa Thánh; tuy nhiên, cần có một đặc quyền của Tòa Thánh mới được gửi thơ ấy cho một Giám Mục thuộc lễ điển khác với lễ điển của người tiến chức.". (Can.1021)

"Khi đã nhận được thư giới thiệu, Giám Mục truyền chức không được truyền chức trước khi chưa hoàn toàn chắc chắn về tính cách xác thực của thư ấy. ". (Can.1022)

"Thư giới thiệu có thể bị đặt giới hạn hay bị thu hồi lại bởi chính người đã cấp hay người kế vị họ. Nhưng một khi đã cấp, thư không mất giá trị vì người cấp thư mãn chức vụ.". (Can.1023)

199.- NGƯỜI CHỊU CHỨC

"Chỉ người nam đã chịu phép rửa tội mới được lãnh nhận Bí tích Truyền chức Thánh cách hữu hiệu.". (Can.1024)

"Để truyền các chức Linh mục hay Phó tế cách hợp pháp, Luật đòi hỏi các ứng viên phải trải qua các sự khảo hạch Luật định, Hội đủ những đức tính cần thiết theo sự nhận định của Giám Mục riêng hay Bề trên cao cấp có thẩm quyền; không bị ràng buộc bởi một điều bất hợp Luật hay một ngăn trở nào; và đã chu toàn những điều kiện dự liệu ở các điều 1033-1039 (xem số 201). Ngoài ra còn phải có các văn kiện nói ở điều 1050 (xem số 206), và thực hiện cuộc điều tra qui định ở điều 1051. (xem số 206)

Ngoài ra, Luật còn đòi hỏi là ứng viên được xét là hữu ích cho tác vụ của Giáo Hội, theo sự phán đoán của Bề trên hợp lệ.

Giám Mục nào truyền chức cho một người thuộc cấp sẽ đi phục vụ ở một giáo phận khác phải chắc chắn rằng người chịu chức sẽ được kết nạp vào giáo phận ấy. ". (Can.1025)

200.- ĐIỀU KIỆN CHỊU CHỨC.

"Người chịu chức cần phải có tự do thích đáng. Do đó, tuyệt đối cấm không được cưỡng ép ai lãnh nhận chức thánh, dù bằng cách nào hay với lý do nào. Cũng không được phép ngăn cản lãnh nhận chức thánh một người có đủ điều kiện theo giáo Luật.". (Can.1026)

"Các ứng viên Phó tế và Linh mục phải được huấn luyện và chuẩn bị kỹ càng theo qui tắc Luật định.". (Can.1027)

"Giám Mục giáo phận hay Bề trên có thẩm quyền hãy lo liệu cho các ứng viên trước khi tiến lên một chức thánh, phải được học hỏi đầy đủ về chức ấy và các nghĩa vụ kèm theo.". (Can.1028)

"Dựa theo sự phán đoán khôn ngoan của Giám Mục riêng hoặc của Bề trên cao cấp có thẩm quyền và sau mọi cân nhắc kỹ lưỡng, chỉ cho tiến chức những người có đức tin tinh tuyền, chí hướng ngay thẳng, kiến thức đầy đủ, danh thơm tiếng tốt, tác phong đoan chính, nhân đức đã được thử luyện và những đức tính khác về thể lý và tâm lý tương ứng với chức thánh sẽ lãnh nhận.". (Can.1029)

"Duy chỉ vì một lý do giáo Luật, cho dù còn kín đáo, Giám Mục riêng hay Bề trên cao cấp có thẩm quyền mới có thể ngăn cấm các Phó tế thuộc quyền, được trạch cử lên chức Linh mục, không được tiến tới chức thánh này; dù sao, đương sự vẫn có quyền thượng cầu theo qui tắc Luật định.". (Can.1030)

"Chỉ được truyền chức Linh mục cho người đã được 25 tuổi trọn, có sự trưởng thành đầy đủ, và đã chịu chức Phó tế ít là 6 tháng. Ứng viên được trạch cử lên chức Linh mục, chỉ có thể chịu chức Phó tế khi đã được 23 tuổi trọn.

Ứng viên Phó tế vĩnh viễn, nếu không lập gia đình chỉ được chịu chức Phó tế khi đã được 25 tuổi trọn; nếu đã lập gia đình, thì ít là 35 tuổi trọn và phải có sự đồng ý của người vợ.

Các Hội Đồng Giám Mục có quyền ra Luật đòi hỏi tuổi cao hơn để chịu chức Linh mục và Phó tế vĩnh viễn.

Tòa Thánh dành quyền miễn chuẩn tuổi chịu chức theo các qui định trên đây, nếu quá một năm.". (Can.1031)

"Ứng viên lên chức Linh mục chỉ có thể chịu chức Phó tế sau khi đã học hết năm năm triết lý và thần học.

Sau khi mãn chương trình học, trước khi chịu chức Linh mục, Phó tế phải thi hành chức thánh bằng cách tham gia làm việc mục vụ trong một thời gian tương xứng tùy theo Giám Mục hay Bề trên cao cấp có thẩm quyền xác định.

Ứng viên lên chức Phó tế vĩnh viễn chỉ lãnh nhận thánh chức này sau khi đã mãn thời gian huấn luyện.". (Can.1032)

201.- NHỮNG ĐIỀU BUỘC TRƯỚC KHI CHỊU CHỨC.

"Chỉ những người đã chịu phép Thêm sức mới được lãnh chức thánh cách hợp pháp.". (Can.1033)

"Ứng viên lên chức Phó tế hay chức Linh mục, sẽ không được lãnh nhận chức thánh nếu chưa được giáo quyền nói ở các điều 1016 và 1019 (xem số 195; số 197) kết nạp vào hàng ứng viên qua nghi lễ tiếp nhận. Trước đó, ứng viên phải tự tay viết và ký đơn xin; và đơn này được giáo quyền chấp nhận bằng giấy tờ.

Nghi lễ tiếp nhận vừa nói không bó buộc những người đã gia nhập vào dòng tu giáo sĩ bằng lời khấn.". (Can.1034)

"Trước khi lãnh chức Phó tế dù là vĩnh viễn hay chuyển tiếp, ứng viên buộc phải lãnh nhận các tác vụ đọc sách và giúp lễ, và phải thi hành các tác vụ ấy trong một thời gian tương xứng.

Giữa tác vụ giúp lễ và chức Phó tế phải có một thời gian cách quãng ít là sáu tháng.". (Can.1035)

"Để có thể lãnh chức Phó tế hay chức Linh mục, ứng viên phải đệ nạp lên Giám Mục riêng hay Bề trên cao cấp có thẩm quyền một tuyên cáo tự tay viết và ký, trong đó xác nhận rằng họ hoàn toàn tự nguyện và tự do lãnh nhận thánh chức, và họ sẽ trọn đời dấn thân vào thừa tác vụ của Giáo Hội, đồng thời xin được nhận cho lãnh chức.". (Can.1036)

"Người không lập gia đình muốn tiến đến chức Phó tế vĩnh viễn, cũng như người muốn tiến đến chức Linh mục, sẽ không được nhận vào hàng Phó tế, nếu không công khai đảm nhận trước mặt Thiên Chúa và Giáo Hội nghĩa vụ sống độc thân qua một nghi thức luật định, hoặc chưa tuyên khấn trọn đời trong một dòng tu.". (Can.1037)

"Phó tế không thể bị cấm thi hành thánh chức đã lãnh nhận chỉ vì đương sự từ chối không tiến lên chức Linh mục; trừ khi họ mắc một ngăn trở giáo luật, hay do một lý do quan trọng khác theo sự phán đoán khôn ngoan của Giám Mục giáo phận hoặc của Bề trên cao cấp có thẩm quyền.". (Can.1038)

"Trước khi lãnh một chức nào, mọi ứng viên phải cấm phòng ít là năm ngày tại nơi và theo cách mà Bản Quyền chỉ định. Trước khi truyền chức, Đức Giám Mục phải được thông báo về việc các ứng viên đã cấm phòng hợp lệ.". (Can.1039)

202.- NHỮNG ĐIỀU BẤT HỢP luật ĐỂ CHỊU CHỨC.

"Những người vướng mắc một ngăn trở nào đó hoặc vĩnh viễn -luật gọi là " điều bất hợp luật"- hoặc đơn thường, phải bị loại trừ không được lãnh chức thánh. Tuy nhiên, không ai bị coi là mắc ngăn trở, ngoài những ngăn trở liệt kê trong các điều luật sau đây.". (Can.1040)

"Những trường hợp "bất hợp luật" để chịu chức là:

1. Người mắc bệnh điên khùng, hay bị một tâm bệnh khác mà theo ý kiến các nhà chuyên môn, đương sự không thể chu toàn đứng phép thừa tác vụ cách thích đáng được;

2. Người phạm tội bội giáo, lạc giáo hay ly giáo; (xem số 102)

3. Người đã kết hôn, cho dù chỉ kết hôn dân sự, khi bị ngăn trở hôn nhân vì đã thành hôn trước đó, hoặc vì có chức thánh, hay có lời khấn công khai giữ khiết tịnh trọn đời; hoặc vì đương sự kết hôn với một người nữ đã kết hôn hữu hiệu hay đã bị ràng buộc bởi lời khấn khiết tịnh giống như vậy;

4. Người phạm tội cố sát hoặc phá thai có hiệu quả, và tất cả những người cộng tác tích cực vào các tội đó;

5. Người chủ tâm cưa cắt thân thể của mình hay của người khác cách nặng nề, hoặc đã có lần mưu toan tự vẫn;

6. Người đã thi hành một hành vi thánh chức dành riêng cho Linh mục và Giám Mục, khi không có thánh chức đó hay đã có thánh chức nhưng đã bị cấm thi hành do một hình phạt giáo luật đã tuyên bố hay đã tuyên kết.". Can.1041)

203.- NHỮNG NGĂN TRỞ CHỊU CHỨC.

"Những trường hợp ngăn trở đơn thường không được chịu chức là:

1. Người nam đang có đôi bạn; trừ khi được tiến cử lên chức Phó tế vĩnh viễn;

2. Người đang đảm nhiệm một chức vụ hay một việc quản trị có kèm theo việc tường trình mà giáo luật điều 285 và 286 cấm giáo sĩ. Ngăn trở này chấm dứt khi đương sự hết đảm nhiệm những công việc đó, hay đã hoàn tất việc tường trình;

3. Người tân tòng, trừ khi Bản Quyền xét thấy họ đã vững vàng.". (Can.1042)

"Các tín hữu nào biết các ngăn trở lĩnh chức thánh thì có bổn phận phải trình lên Bản Quyền hay Cha Sở trước ngày truyền chức.". (Can.1043)

204.- NGĂN TRỞ HÀNH SỬ CHỨC THÁNH.

"Những trường hợp bất hợp luật để hành sử các chức thánh đã lãnh nhận là:

1. Người đã lãnh nhận chức thánh cách bất hợp pháp, bởi vì mắc một điều bất hợp luật để chịu chức;

2. Người đã phạm tội nói đến trong điều 1041, số 2, nếu tội đã thành công khai; (xem số 202)

3. Người đã phạm tội nói đến trong điều 1041, các số 3, 4, 5, 6. (xem số 202)

Những trường hợp ngăn trở không được hành sử chức thánh là:

1. Người đã chịu chức cách bất hợp pháp vì bị ngăn trở không được chịu chức;

2. Người mắc bệnh điên rồ hay một tâm bệnh nào khác nói đến trong điều 1041, số 1 (xem số 202), cho đến chừng nào Bản Quyền cho phép hành sử chức thánh, sau khi đã bàn hỏi ý kiến của nhà chuyên môn.". (Can.1044)

"Việc không biết các trường hợp bất hợp luật và các ngăn trở không giải trừ cho các đương sự.". (Can.1045)

"Các điều bất hợp luật và các ngăn trở tăng thêm lên do những nguyên nhân khác nhau, chứ không do cùng một nguyên nhân lặp đi lặp lại, trừ trường hợp bất hợp luật do tội cố sát hay phá thai có hiệu quả.". (Can.1046)

Các điều bất hợp luật thuộc cố sát hay phá thai được tính từng lần, nhiều lần hơn thì bị tội nặng hơn, còn những trường hợp bất hợp luật khác dù phạm nhiều lần nhưng cũng chỉ tính là đã phạm loại tội đó.

205.- MIỄN CHUẨN CÁC BẤT HỢP LUẬT

"Tòa Thánh dành quyền miễn chuẩn các điều bất hợp luật, nếu sự kiện làm nền tảng đã bị đưa ra tòa án. Tòa Thánh cũng dành quyền miễn chuẩn các điều bất hợp luật và các ngăn trở cấm chịu chức sau đây:

1. Những bất hợp luật do tội phạm công khai nói ở điều 1041, các số 2 và 3; (xem số 202)

2. Bất hợp luật do tội phạm hoặc công khai hoặc kín đáo nói ở điều 1041, số 4; (xem số 202)

3. Ngăn trở nói ở điều 1042, số 1. (xem số 203)

Tòa Thánh cũng dành quyền miễn chuẩn các điều bất hợp luật để hành sử chức thánh đã lãnh, nói ở điều 1041, số 4 (xem số 202), cả trong những trường hợp còn kín đáo.

Bản Quyền có thể miễn chuẩn những điều bất hợp luật và ngăn trở không dành cho Tòa Thánh.". (Can.1047)

"Trong những trường hợp còn kín đáo và rất khẩn cấp, nếu không thể đến với Bản Quyền được, hoặc không thể đến Tòa Ân Giải Tòa Thánh khi gặp những bất hợp luật nói ở điều 1041, số 3 và số 4 (xem số 202) và có nguy cơ thiệt hại nặng, hay nguy cơ mất tiếng tốt, thì ai mắc phải bất hợp luật để hành sử chức thánh vẫn có thể hành sử, nhưng họ có bổn phận phải đến sớm hết sức với Bản Quyền hay Tòa Ân Giải Tòa Thánh để xin miễn chuẩn, qua trung gian cha giải tội và không cần xưng danh tánh.". (Can.1048)

"Trong đơn xin chuẩn các điều bất hợp luật và các ngăn trở, phải kê khai tất cả mọi bất hợp luật và ngăn trở. Tuy nhiên, ơn miễn chuẩn tổng quát có giá trị cho tất cả những bất hợp luật và ngăn trở đã vô tình quên kê khai, trừ những bất hợp luật nói ở điều 1041, số 4 (xem số 202) và những bất hợp luật khác đã đưa ra tòa án; nhưng không có giá trị cho bất hợp luật và ngăn trở đã dấu diếm vì gian ý.

Nếu là bất hợp luật cố sát và phá thai, thì để sự miễn chuẩn được hữu hiệu, cần phải nói rõ số lần phạm tội nữa. Ơn miễn chuẩn tổng quát về các bất hợp luật và ngăn trở cấm lãnh thánh chức, có giá trị cho mọi chức thánh.". (Can.1049)

206.- TIẾN CỬ NGƯỜI CHỊU CHỨC.

"Để có thể tiến cử người nào lên các chức thánh, cần phải có các văn kiện sau đây:

1. Chứng thư đã học hết chương trình cách hợp lệ theo điều 1032. (xem số 200)

2. Nếu đương sự được tiến cử lên chức Linh mục: chứng thư đã chịu chức Phó tế;

3. Nếu được tiến cử lên chức Phó tế: chứng thư Rửa tội, Thêm sức, chứng thư đã nhận các tác vụ theo điều 1035 (xem số 201); chứng thư đã làm tờ tuyên cáo theo điều 1036 (xem số 201); nếu là người đã lập gia đình được tiến cử lên chức Phó tế vĩnh viễn, chứng thư về hôn phối và giấy thỏa thuận của người vợ.". (Can.1050)

"Việc điều tra về những tư cách cần thiết của người được tiến chức phải theo những qui luật sau đây:

(1) Phải có chứng thư của Giám đốc chủng viện hay Giám đốc cơ sở huấn luyện về những tư cách luật buộc để chịu chức, nghĩa là về giáo thuyết ngay thẳng, lòng đạo đức chân thành, hạnh kiểm tốt, khả năng thi hành thừa tác vụ của ứng viên, chứng thư về tình trạng sức khỏe thể lý và tâm lý sau khi đã được khám nghiệm kỹ lưỡng.

(2) Để thực hiện việc điều tra cách thích hợp, Giám Mục giáo phận hay Bề trên cao cấp có thể xử dụng những phương thế khác xét là hữu ích, tùy theo hoàn cảnh thời gian và nơi chốn; chẳng hạn các chứng thư, bố cáo hay những hình thức thông tin khác.". (Can.1051)

"Để Giám Mục có thể tiến hành việc truyền chức cho người thuộc quyền của mình, ngài phải chắc chắn đã nhận được các tài liệu nói trong điều 1050 xem số 206), cũng như ngài phải nắm vững những bằng chứng tích cực về khả năng của ứng viên, sau khi đã thực hiện việc điều tra luật định.

Để Giám Mục có thể truyền chức cho người không thuộc quyền mình, ngài chỉ cần thư giới thiệu chứng nhận đã có đủ các tài liệu, đã hoàn tất việc điều tra theo giáo luật và đã rõ khả năng của ứng viên. Hơn nữa, nếu người được tiến cử là tu sĩ của một dòng tu hay tu đoàn tông đồ, thư giới thiệu còn phải khẳng định rằng đương sự đã được gia nhập vĩnh viễn vào dòng tu hay tu đoàn và là thuộc cấp của Bề trên cấp thư ấy.

Mặc dù đã thi hành tất cả những điều trên, nếu Giám Mục còn có những lý do chắc chắn để hoài nghi về khả năng chịu chức của ứng viên, ngài không được truyền chức.". (Can.1052)

207.- GHI CHÚ VÀ CHỨNG THƯ CHỊU CHỨC.

"Sau lễ truyền chức, phải ghi tên của người chịu chức, của người truyền chức, nơi và ngày truyền chức, vào một cuốn sổ riêng được lưu giữ cẩn thận tại giáo phủ nơi truyền chức, cũng phải lưu giữ tỉ mỉ tất cả mọi văn kiện liên can đến mỗi lần truyền chức.

Giám Mục truyền chức phải cấp cho mỗi người đã chịu chức một chứng thư công chính về chức Thánh đã lãnh nhận. Những người đã được giới thiệu để được chịu chức không do chính Giám Mục riêng thì sau đó phải trình chứng thư lên Bản Quyền riêng để ghi chứ vào sổ riêng giữ tại văn khố.". (Can.1053)

"Bản Quyền sở tại, nếu người chịu chức là giáo sĩ triều, hoặc Bề trên cao cấp có thẩm quyền, nếu người chịu chức là tu sĩ thuộc quyền, phải báo cho Cha sở nơi người chịu chức đã chịu phép rửa tội về lễ truyền chức đã cử hành, để Cha sở ghi chú vào sổ rửa tội theo qui định của điều 535,2.". (Can.1054)

 


 
Top