home

Cẩm nang Giáo Luật Thực Dụng : Mục Lục

TẬP BỐN: NHIỆM VỤ THÁNH HÓA CỦA GIÁO Hội

CHƯƠNG IV : BÍ TÍCH THỐNG HỐI.

170.- Ý NGHĨA CỦA BÍ TÍCH THỐNG HỐI.

"Trong Bí tích Thống Hối, những tín hữu nào thứ tội với một thừa tác viên hợp pháp, hối hận về những tội ấy và dốc lòng sửa mình, thì được Thiên Chúa tha thứ những tội đã phạm sau khi chịu Bí tích Rửa Tội, qua sự xá giải do tác viên ấy ban, và đồng thời họ được giao hòa với Giáo Hội mà họ đã làm tổn thương khi phạm tội.". (Can.959)

Thống hối là một nhân đức và cũng là một Bí tích. Như một nhân đức, thống hối là thói quen đạo đức siêu nhiên giúp chúng ta chống lại tội lỗi vì tội lỗi xức phạm đến Chúa và dốc quyết tránh tội đồng thời đền bù những thiệt hại gây nên do tội đã phạm. Thống hối cũng là một trong bảy Bí tích Chúa Giêsu thiết lập, qua Bí tích này, các tội lỗi đã phạm sau khi rửa tội sẽ được thứ tha nếu người hối nhân biết ăn năn, dốc lòng sửa mình, xưng thứ tội lỗi và sẵn sàng đền bù những thiệt hại đã gây nên.

Khi phạm tội là ta phản nghịch cùng Thiên Chúa, cùng một lúc, ta làm thiệt hại sự thánh thiện của Giáo Hội mà ta là thành viên. Do đó, khi thống hối, ta được giải hòa với Thiên Chúa đồng thời giải hòa cả với Giáo Hội nữa.

171.- GIẢI TỘI CÁ NHÂN.

"Việc thứ tội cá nhân và toàn vẹn cùng với việc xá giải cấu tạo nên phương cách duy nhất và thông thường, nhờ đó người tín hữu ý thức mình có tội nặng được hòa giải với Thiên Chúa và Giáo Hội. Chỉ sự bất khả kham về thể lý hay luân lý mới chuẩn khỏi cách thứ tội như vậy; trường hợp ấy, người ta có thể lãnh ơn hòa giải bằng những cách khác.". (Can.960)

"Không thể ban ơn xá giải cùng một lúc cho nhiều người khi chưa có việc xưng tội cá nhân trước. (xem c.961)

Công Đồng Chung Trentô (1545-1563) tuyên cáo rằng qua nhiều thế kỷ, việc xưng tội và ban ơn Xá giải cá nhân tạo nên lợi ích dồi dào cho các linh hồn. Do đó, việc Xưng tội và Giải tội cá nhân là hình thức duy nhất thông thường, qua đó, hối nhân được giải hòa với Thiên Chúa và với Giáo Hội.

Chỉ những trường hợp bất khả kham về thể lý (như ốm đau, bệnh tật...) hay luân lý (như bị cầm tù, không có Linh mục...) mới được chuẩn khỏi việc xưng tội và nhận ơn Xá giải cá nhân.

172.- GIẢI TỘI TẬP THỂ

Trong những trường hợp sau đây, có thể ban ơn xá giải cách tập thể:

1. Khi gần cơn nguy tử mà một Linh mục hay nhiều Linh mục không đủ thời giờ nghe từng hối nhân xưng tội.

2. Khi có sự khẩn thiết trầm trọng, nghĩa là, khi nào xét vì số đông hối nhân và không có đủ cha giải tội để nghe từng người xưng tội hợp lệ trong một thời gian thích đáng, đến nỗi vì vậy mà các hối nhân không phải do lỗi tại họ mà đành thiệt mất ơn Bí tích xá giải hay ơn rước lễ trong một thời gian lâu dài. Tuy nhiên, không được coi là có sự khẩn thiết thực sự, khi không có đủ các cha giải tội chỉ nguyên vì lý do hối nhân đông đảo, như có thể xảy ra trong một vài đại lễ hay hành hương.

Giám Mục giáo phận có thẩm quyền nhận định về những điều kiện đòi hỏi ở phần số 2 trên đây. Sau khi xét đến các tiêu chuẩn đã thỏa thuận với các thành viên khác của Hội Đồng Giám Mục, ngài có thể xác định những trường hợp nào được coi là khẩn thiết.". (xem c.961)

"Để hưởng cách hữu hiệu ơn xá giải ban một trật cho nhiều người, các tín hữu không những phải có tâm tình thích đáng, nhưng còn phải dốc lòng cách riêng sẽ đi xưng vào lúc thuận tiện các tội nặng mà trong lúc này không thể xưng được.

Trong tầm mức có thể, kể cả vào chính lúc ban ơn xá giải chung, phải dạy cho tín hữu bổn phận nói trên; và trước khi ban ơn xá giải chung, cho dù là trong trường hợp nguy tử, nếu thời giờ cho phép, phải mời gọi mỗi người dục lòng thống hối.". (Can.962)

"Đừng kể bổn phận nói ở điều 989, ai đã được tha các tội trọng nhờ việc xá giải chung phải đi xưng tội cá nhân vào dịp sớm nhất, trước khi lãnh nhận ơn xá giải chung lần nữa, nếu không có một lý do chính đáng khác.". (Can.963)

Trường hợp một cá nhân chỉ cố ý đi xưng tội trong những dịp giải tội tập thể, Bí tích họ lãnh nhận vẫn hữu hiệu, nhưng bất hợp pháp.

173.- BA NGHI THỨC GIẢI TỘI THEO LUẬT PHỤNG VỤ

Trong "Nghi Thức Bí Tích Giải Tội" (ban hành 1973) có qui định ba Nghi thức Giải tội như sau:

1. Nghi thức một (Xét mình riêng, xưng tội riêng, giải tội riêng): Từng cá nhân hối nhân đến nơi giải tội, tự chuẩn bị rồi gặp Cha giải tội, xưng tội và được giải tội: Đây là hình thức thông thường nhất được áp dụng trong Giáo Hội qua nhiều thế kỷ. Từ Công Đồng Chung Trentô (1545-1563), Giáo Hội khuyến khích các tín hữu nên theo nghi thức này.

2. Nghi thức hai (Xét mình "chung", xưng tội riêng, giải tội riêng) : Các hối nhân cùng nhau tham dự nghi thức chuẩn bị, vị chủ sự hướng dẫn họ xét mình, sau đó từng người gặp Cha Giải tội, xưng tội riêng và được giải tội riêng. Đây là hình thức thông thường được áp dụng tại các xứ đạo song song với những nghi thức và nghi lễ trong các dịp lễ trọng như Lễ Phục Sinh, Lễ Giáng Sinh, v.v...

3. Nghi thức ba (Giải tội chung hay Giải tội tập thể): Các hối nhân cùng nhau tham dự nghi thức chuẩn bị, vị chủ sự hay Cha Giải tội hướng dẫn họ xét mình, sau đó Cha giải tội cho biết cách thức đền tội trước khi ban phép Xá giải chung cho tất cả mọi người. Đây là một hình thức thỉnh thoảng được áp dụng, nhưng nên cẩn thận vì trong Bộ Luật, có nhiều điều Luật qui định liên hệ về hình thức giải tội này. (xem số 172) (xem Nghi thức Bí tích Giải tội, ban hành 1973)

174.- NƠI GIẢI TỘI.

"Nơi dành riêng để xưng tội là nhà thờ hay nhà nguyện.

Hội Đồng Giám Mục phải ra những qui Luật liên hệ đến tòa giải tội, liệu sao để có tòa giải tội đặt nơi công khai và với một vách ngăn giữa hối nhân và Cha giải tội, ngõ hầu các tín hữu có thể tự do đến tòa giải tội khi họ muốn.

Trong nhiều trường hợp và vì nhiều lý do, hối nhân không muốn Cha giải tội biết mặt hay biết tên họ; hối nhân có quyền làm như thế; Do đó, phải cẩn trọng trong việc thiết lập Tòa giải tội: vừa công khai (để mọi người đều có thể thấy và đến cách dễ dàng), vừa kín đáo (hối nhân đối với Cha giải tội).

Không được nhận xưng tội ở ngoài tòa giải tội, trừ khi có lý do chính đáng.". (Can.964)

175.- THỪA TÁC VIÊN BÍ TÍCH GIẢI TỘI.

"Chỉ duy tư tế mới là thừa tác viên của Bí tích Thống Hối.". (Can.965)

Qua Bí tích Truyền chức thánh, một tư tế trở thành "có khả năng" tha tội. Nhưng duy là một tư tế không thôi, chưa đủ để giải tội cách hữu hiệu mà còn cần phải được ủy nhiệm "năng quyền" (facultas) nữa. (xem số 176)

176.- NĂNG QUYỀN GIẢI TỘI

Để việc xá giải được hữu hiệu, Luật đòi hỏi thừa tác viên, ngoài quyền thánh chức, còn phải có năng quyền thi hành quyền thánh chức ấy đối với các tín hữu mà ngài ban ơn xá giải.

Linh mục có thể lãnh nhận năng quyền này hoặc do chính Luật, hoặc do nhà chức trách có thẩm quyền cấp ban theo những qui tắc Luật định. (xem c.966)

A.- NĂNG QUYỀN THEO LUẬT

Ngoài Đức Giáo Hoàng, ra, các Hồng Y được hưởng, theo Luật, năng quyền giải tội đối với các tín hữu ở mọi nơi; các Giám Mục cũng được hưởng năng quyền như vậy, và được xử dụng năng quyền cách hợp pháp ở mọi nơi, trừ khi Giám Mục giáo phận phản đối trong một trường hợp cụ thể.

B.- NĂNG QUYỀN THEO CHỨC VỤ:

Ai được hưởng năng quyền giải tội, hoặc do chức vụ, hoặc do Bản Quyền sở tại nơi mình nhập tịch hay nơi mình cư trứ, ban cấp, thì có thể xử dụng năng quyền ấy ở mọi nơi, trừ khi Bản quyền sở tại ở một nơi nào phản đối trong một trường hợp cụ thể, miễn là tuân hành các qui định của điều 974, triệt 2 và triệt 3. (xem c.974,2-3)

Ai được hưởng năng quyền giải tội do chức vụ hay sự ban cấp của Bề trên có thẩm quyền, cũng được quyền giải tội, theo Luật, cho các phần tử và những người khác cư ngụ ngày đêm trong nhà của một dòng tu hay tu đoàn, và họ có thể xử dụng năng quyền ấy cách hợp pháp, trừ khi có Bề trên cao cấp phản đối trong một trường hợp cụ thể đối với những người thuộc cấp của mình.". (xem c.967)

"Bản Quyền sở tại, Kinh sĩ xá giải, cũng như các Cha sở và những người khác thế Cha sở được hưởng năng quyền giải tội do chức vụ, trong phạm vi lãnh thổ của họ.

Các Bề trên dòng tu hoặc tu đoàn tông đồ, nếu là dòng giáo sĩ thuộc Luật Giáo hoàng và có quyền cai trị, hành pháp chiếu theo hiến pháp, thì được hưởng năng quyền giải tội, do chức vụ, trên tất cả những người thuộc quyền và những người cư ngụ ngày đêm trong nhà, tuy vẫn phải giữ qui định của điều 630, triệt 4."(*). (Can.968)

(*) 630,4: Các Bề trên đừng nên nghe các thuộc cấp xưng tội, trừ khi chính họ yêu cầu.

C.- NĂNG QUYỀN BAN CẤP:

Duy Bản Quyền sở tại mới có thẩm quyền ban cấp cho bất cứ Linh mục nào được năng quyền giải tội cho bất cứ tín hữu nào. Tuy nhiên, các Linh mục thuộc dòng tu không nên xử dụng năng quyền ấy nếu không có phép của Bề trên, ít là cách suy đoán.

Bề trên của dòng tu hoặc tu đoàn tông đồ theo Luật giáo hoàng, có quyền cai trị hành pháp chiếu theo hiến pháp, có thẩm quyền ban cho bất cứ Linh mục nào được năng quyền giải tội cho những người thuộc cấp của mình và những người khác cư ngụ ngày đêm trong nhà. (xem c.969)

"Năng quyền giải tội chỉ được cấp cho những Linh mục được coi là có khả năng qua việc khảo hạch hoặc đã rõ bằng cách nào khác.". (Can.970)

"Bản Quyền sở tại không được cấp năng quyền giải tội thường xuyên cho một Linh mục, cho dù Linh mục ấy có cư sở hay bán cư sở trong lãnh thổ của mình, trước khi tham khảo ý kiến với Bản Quyền của Linh mục ấy, tùy theo tầm mức có thể.". (Can.971)

Bản Quyền sở tại có thẩm quyền có thể cấp năng quyền giải tội với thời gian có hạn định hay vô hạn định. (xem c.972)

"Năng quyền giải tội thường xuyên phải được cấp bằng giấy tờ.". (Can.973)

D.- MẤT NĂNG QUYỀN GIẢI TỘI:

Bản Quyền sở tại cũng như Bề trên có thẩm quyền không nên thu hồi năng quyền giải tội thường xuyên đã cấp nếu không có lý do quan trọng.

Một khi năng quyền giải tội bị thu hồi bởi chính Bản Quyền sở tại, nơi mình nhập cư đã cấp, thì Linh mục mất năng quyền ở mọi nơi. Còn khi năng quyền bị thu hồi bởi Bản Quyền địa phương khác, thì Linh mục chỉ bị mất năng quyền trong lãnh thổ của Bản Quyền ấy thôi.

Một khi bị Bề trên cao cấp riêng của mình thu hồi năng quyền giải tội, thì Linh mục mất năng quyền giải tội ở mọi nơi đối với các phần tử của dòng tu; còn khi bị một Bề trên khác có thẩm quyền thu hồi, thì Linh mục chỉ mất năng quyền giải tội đối với các tu sĩ thuộc cấp của Bề trên ấy.".(xem c.974)

Bất cứ Bản Quyền sở tại nào thu hồi năng quyền giải tội của một Linh mục, thì phải báo cho Bản Quyền riêng nơi Linh mục nhập tịch, hoặc cho Bề trên có thẩm quyền nếu Linh mục ấy là một phần tử của dòng tu.

Ngoại trừ trường hợp bị thu hồi, năng quyền giải tội hoặc do chức vụ hoặc đã được ban cấp còn bị chấm dứt khi mãn chức vụ hay khi xuất tịch hoặc đổi cư sở. (xem c.975)

E.- GIẢI TỘI KHÔNG CÓ NĂNG QUYềN

"Bất cứ tư tế nào, dù không có năng quyền giải tội, vẫn xá hết các tội và vạ cách hữu hiệu và hợp pháp cho mọi hối nhân lâm cơn nguy tử, cho dù lúc ấy có sự hiện diện của một Linh mục được chuẩn nhận.". (Can.976)

Một tư tế, do một nguyên do nào đó, không còn hành sử chức Linh mục cách hợp pháp nữa, vẫn có thể ban Bí tích Xá giải cho một hối nhân trong cơn nguy tử hữu hiệu và hợp pháp.

NĂNG QUYỀN THẬP NIÊN

Các Linh mục đã nhập tịch hoặc nhập vụ trong giáo phận, được quyền giải tội trong cả giáo phận, nhưng nếu không phải khu vực trách nhiệm của mình thì phải có sự ưng thuận của Linh mục hữu trách nơi đó, ít là có lý do chính đáng để phỏng đoán sự ưng thuận đó.- Lại các Linh mục (triều hay dòng) có quyền giải tội trong giáo phận hay trong tu viện mình, thì nếu có sự ưng thuận ít là phỏng đoán như trên, cũng được giải tội trong các giáo phận khác thuộc Miền Nam Việt nam, do các Giám Mục đã cùng nhau thỏa thuận như vậy, chỉ trừ những Linh Mục hay Tu sĩ ra khỏi giáo phận hay tu viện mình một cách bất hợp pháp, hoặc khi Đức Giám Mục sở tại, Cha Quản xứ, Quản sở hay Tuyên Úy từ chối rõ rệt. (NQTN.20)

177.- VAI TRÒ CHA GIẢI TỘI.

"Tư tế phải nhớ rằng: khi giải tội ngài đóng vai thẩm phán và y sĩ, ngài được Thiên Chúa đặt làm thừa tác viên vừa của công lý và vừa của lòng từ bi của Chúa, ngõ hầu làm vinh danh Chúa và cứu rỗi các linh hồn.

Khi ban Bí tích, Cha giải tội, vì là thừa tác viên của Giáo Hội, phải gắn bó trung thành với giáo huấn của Giáo Hội và các qui Luật do nhà chức trách có thẩm quyền ban hành.". (Can.978)

"Nghi thức Bí tích Giải tội" (ban hành 1973) nhấn mạnh đến vai trò "y sĩ" hơn là vai trò thẩm phán của Linh mục.

"Khi đặt các câu hỏi, tư tế phải khôn ngoan và thận trọng để ý đến điều kiện và tuổi tác của hối nhân; lại phải tránh hỏi tên của đồng lõa.". (Can.979)

"Nếu không có gì hoài nghi về sự thành tâm của hối nhân và đương sự xin ơn xá giải, thì Cha giải tội không được khoan giãn hay từ chối việc xá giải.". (Can.980)

"Tùy theo tính chất và số lượng của tội, và cũng tùy theo hoàn cảnh của hối nhân, cha giải tội phải ra việc đền tội hữu ích và cân xứng. Hối nhân có bổn phận đích thân thi hành việc đền tội.". (Can.981)

Ba nguyên tắc để ra việc đền tội:

1. Để chuộc lại những lầm lỗi đã phạm;

2. Để sửa đổi lại đời sống cũ;

3. Để sửa chữa những thiệt hại đã gây nên.

Việc đền tội có thể được ấn định trong những lãnh vực: Làm việc bác ái, cầu nguyện, hy sinh, hãm mình...Trong vài trường hợp, Cha giải tội có thể để tùy hối nhân chọn lựa.

Hối nhân có thể làm việc đền tội trong khoảng thời gian sau khi xưng tội và trước khi được xá giải (nếu thuận tiện), hoặc sau khi xưng tội.

178.- GIẢI TỘI CHO ĐỒNG LÕA.

"Sự xá giải cho đồng lõa về tội phạm điều răn thứ sáu thì vô hiệu, đừng kể khi nguy tử.". (Can.977)

Tội phạm điều răn thứ sáu ở đây ám chỉ tội phạm lỗi đức trong sạch dù với người cùng phái hay khác phái. Một tư tế giải tội cho người đồng lõa, thì việc giải tội sẽ vô hiệu, đồng thời tư tế ấy bị án phạt vạ tuyệt thông tiền kết (latae sententiae) dành riêng cho Tòa Thánh. (xem c.1378,1)

Nhưng trong trường hợp người đồng lõa ấy lâm cơn nguy tử, việc ban phép Xá giải vẫn hữu hiệu và hợp pháp. Tuy nhiên, nếu sau đó cơn nguy tử qua đi và hối nhân trở lại bình thường, việc ban Bí tích Xá giải phải được cậy lên Bản Quyền liên hệ.

179.- TỘI CÁO GIAN.

"Ai thứ nhận đã cáo gian Cha giải tội ngay lành trước giáo quyền về tội quyến rò phạm điều răn thứ sáu, thì chỉ được xá giải sau khi đã minh thị rứt lại lời cáo gian và bồi thường thiệt hại nếu có.". (Can.982)

Việc quyến rò bị cáo gian minh thị trong điều Luật này ám chỉ được thực hiện trong Tòa giải tội, không phải nơi tòa ngoài.

"Linh mục nào trong khi giải tội, hay nhân dịp giải tội, mà dụ dỗ hối nhân phạm tội nghịch giới răn thứ sáu, sẽ bị phạt, tùy theo mức nặng của tội phạm, huyền chức, cấm quyền, trước quyền và, trong những trường hợp nặng hơn, phải bị khai trừ khỏi hàng giáo sĩ.". (Can.1387)

Người bị quyến rũ có thể là người cùng phái hay khác phái.

Người cáo gian, nếu là giáo dân bị phạt vạ cấm chế tiền kết, nếu là giáo sĩ sẽ bị phạt vạ cấm chế và huyền chức tiền kết.

180.- ẤN TÍCH GIẢI TỘI.

"Ấn tích giải tội là điều bất khả vi phạm; do đó, tuyệt đối cấm chỉ Cha giải tội không được tiết lộ về hối nhân bằng lời nói hay bằng cách nào khác, và vì bất cứ lý do gì.

Nghĩa vụ phải giữ bí mật buộc cả những người thông ngôn nếu có, và mọi người khác, vì một cách nào đó, đã nghe biết các tội khi hối nhân xưng tội.". (Can.983)

"Tuyệt đối cấm chỉ Cha giải tội không được xử dụng những điều biết được trong tòa giải tội để làm hại hối nhân, cho dù không có nguy cơ tiết lộ.

Những người cầm quyền không bao giờ được dùng vào việc cai trị ở tòa ngoài những điều nghe biết trong tòa giải tội bất cứ vào thời gian nào.". (Can.984)

"Giám TẬP và người phụ tá, giám đốc của chủng viện hay một cơ sở giáo dục nào khác, không được phép giải tội cho các học sinh trọ trong cùng một nhà, trừ khi học sinh tự ý yêu cầu trong những trường hợp riêng.". (Can.985)

Cha giải tội, nếu là người có trách nhiệm quyết định về những sinh hoạt nơi tòa ngoài (quyết định cho người dưới quyền tiến chức, khấn dòng, hạnh kiểm trong nhà nội trứ...) dễ có nguy cơ vi phạm ấn tích giải tội.

"Tất cả những người có trách nhiệm coi sóc các linh hồn buộc phải dự liệu cho giáo dân của mình được xưng tội mỗi khi họ yêu cầu cách hợp lý; lại phải ấn định ngày và giờ thuận lợi để họ tùy tiện đến xưng tội riêng.

Trong trường hợp khẩn cấp, bất cứ Cha giải tội nào cũng buộc phải giải tội cho tín hữu; và trong lúc nguy tử, bất cứ tư tế nào cũng buộc phải giải tội. ". (Can.986)

181.- VAI TRÒ CỦA HỐI NHÂN.

"Để lãnh nhận linh dược cứu rỗi của Bí tích Thống Hối, tín hữu phải thành tâm từ bỏ những tội đã phạm và quyết chí sửa mình, trở về với Thiên Chúa. ". (Can.987)

"Tín hữu buộc xưng thứ, sau khi xét mình kỹ lưỡng, hết mọi tội nặng, theo từng loại và số, mà mình ý thức đã sa phạm sau khi chịu phép rửa tội mà chưa được trực tiếp tha thứ bởi quyền tháo gỡ của Giáo Hội hoặc chưa thứ nhận trong việc xưng tội riêng.

Ngay từ những thế kỷ đầu tiên của Giáo Hội, các "loại" tội đã được phân biệt như sau:

a.- Các tội phạm làm mất phần thưởng thiên đàng: "Anh em không biết sao? những kẻ bất công sẽ không được nước Thiên Chúa làm cơ nghiệp? Chớ có tự khi! Hạng dâm dật, thờ quấy, ngoại tình, bợm điếm, dâm cuồng, trộm cắp, tham ô, nghiện ngập, chửi bới hay cướp dựt, các người đó sẽ không được nước Thiên Chúa làm cơ nghiệp" (ICor.6,9-10)

b.- Các tội phạm hằng ngày (peccata quotidiana): Các tội có thể xếp loại nặng hay nhẹ tùy theo hoàn cảnh, ý thức và sự thiệt hại gây nên trong đời sống hàng ngày.

Tín hữu được khuyến khích nên xưng hết cả những tội nhẹ nữa.". (Can.988)

"Mọi tín hữu, sau khi đã đến tuổi khôn, buộc phải xưng kỹ càng các tội trọng ít là mỗi năm một lần.". (Can.989)

"Không cấm xưng tội bằng thông ngôn, miễn là phải tránh mọi lạm dụng, gương xấu, và giữ qui định của điều 983, triệt 2.". (Can.990)

"Mọi tín hữu được toàn quyền xưng tội với một Cha giải tội được chuẩn nhận hợp lệ mà họ ưng ý, tuy dù vị ấy thuộc lễ điển khác.". (Can.991)

182.- CÁC ÂN XÁ.

"Ân xá là sự xá giải trước mặt Chúa các hình phạt thế tạm vì các tội lỗi đã được xóa bỏ. Người tín hữu dọn mình xứng đáng và thi hành ít nhiều điều kiện đã chỉ định thì được hưởng ơn tha thứ ấy nhờ sự trung gian của Giáo Hội. Với tư cách thừa tác viên ơn cứu chuộc. Giáo Hội dùng quyền phân phát và áp dụng kho tàng đền tạ của Chúa Kitô và các Thánh.". (Can.992)

"Ân xá là toàn phần hay từng phần, tùy theo sự giải thoát hình phạt thế tạm vì tội lỗi là hoàn toàn hay chỉ một phần.". (Can.993)

183.- BAN ÂN XÁ.

"Ngoại trừ thẩm quyền tối cao của Giáo Hội, chỉ những ai được giáo Luật nhìn nhận hay được Đức Giáo Hoàng cấp quyền riêng mới có thể ban các ân xá. Không quyền bính nào dưới Đức Giáo Hoàng có thể cấp cho người khác quyền ban ân xá, nếu không được Tòa Thánh minh thị dành cho đặc quyền ấy. ". (Can.995)

184.- HƯỞNG ÂN XÁ.

"Mọi tín hữu đều có thể hưởng ân xá toàn phần hay từng phần, hoặc cho chính mình hoặc để chuyển cầu cho những người đã qua đời.". (Can.994)

Ân xá theo qui định của Giáo Luật, không thể chỉ cho người đang còn sống được, mà chỉ cho chính mình hay cho người đã qua đời.

"Để có năng cách hưởng ân xá, cần phải là người đã rửa tội, không bị vạ tuyệt thông, sống trong tình trạng ân sủng ít là vào lúc kết thức công tác phải làm.

Tuy nhiên, để đương sự có năng cách được thực thụ hưởng ân xá, cần phải có ý định muốn thủ đắc ân xá và thi hành những công tác vào thời gian và theo cách thức mà giáo quyền đã định.". (Can.996)

"Ngoài ra, để ban ân xá và hưởng dùng ân xá, còn phải tuân giữ những qui định khác trong Luật riêng của Giáo Hội.". (Can.997)

 


 
Top