home

Cẩm nang Giáo Luật Thực Dụng : Mục Lục

TẬP BỐN: NHIỆM VỤ THÁNH HÓA CỦA GIÁO Hội

CHƯƠNG III : BÍ TÍCH THÁNH THỂ

135.- BÍ TÍCH THÁNH THỂ

"Bí tích Thánh Thể là Bí tích cao trọng nhất, trong đó, chính Chúa Kitô hiện diện, tự hiến và trở nên lương thực; nhờ đó, Giáo Hội tiếp tục được sống và tăng trửơng. Hy lễ Thánh Thể, tưởng niệm sự chết và sự sống lại của Chúa, tiếp diễn mãi mãi hy lễ thánh giá, là tuyệt đỉnh và là nguồn suối của tất cả phụng tự và đời sống Kitô giáo. Nhờ Hy lễ Thánh Thể, sự hiệp nhất của dân Chúa được biểu lộ và thể hiện, việc xây dựng nhiệm thể Chúa Kitô được hoàn tất. Bởi đấy, các Bí tích khác và mọi hoạt động tông đồ của Giáo Hội đều qui hướng về và liên kết chặt chẽ với Bí tích Thánh Thể.". (Can.897).

"Các tín hữu phải hết sức tỏ lòng tôn kính Thánh Thể: Tham dự tích cực vào việc cử hành nghi lễ cực trọng này; siêng năng và sốt sắng nhận lãnh Bí tích, lại hết lòng thờ phượng, kính bái Thánh Thể. Trong khi giải thích đạo lý về Bí tích Thánh Thể, các chủ chăn phải ân cần dạy cho các tín hữu về nghĩa vụ sùng kính này.". (Can.898).

136.- Ý NGHĨA BÍ TÍCH THÁNH THỂ

"Việc cử hành Thánh Thể là một tác động của chính Chúa Kitô và của Giáo Hội. Trong việc cử hành này, Chúa Giêsu Kitô. qua tác vụ của tư tế, hiện diện trót bản tính dưới hình thức bánh và rượu, dâng chính mình cho Đức Chúa Cha, trao mình làm lương thực thiêng liêng cho các tín hữu kết hợp với lễ tế của Ngài.

Trong cộng đoàn Thánh Thể, dưới sự chủ tọa của một Giám Mục hay của một Linh mục dưới quyền của ngài, những kẻ làm hiện thân Chúa Kitô, dân Chúa được qui tụ làm một; tất cả các tín hữu hiện diện, dù là giáo sĩ hay giáo dân, đều góp phần tham dự tích cực, mỗi người theo cách thế riêng của mình, tùy theo sự khác biệt về chức thánh và phận sự phụng vụ.

Việc cử hành Thánh Thể phải nhằm tới mục tiêu là làm sao để mọi người tham dự đều lãnh nhận dồi dào những kết quả như Chúa Kitô mong muốn khi thiết lập Hy Lễ Thánh Thể.". (Can.899).

Phần một của điều Luật cho thấy khái niệm về Bí tích Thánh Thể. Phần hai nhấn mạnh đến việc tham dự của toàn thể Giáo Hội trong việc cử hành. Phần ba nhắc nhở đến hiệu quả của Bí tích.

137.- THỪA TÁC VIÊN BÍ TÍCH THÁNH THỂ

"Chỉ duy có tư tế đã được truyền chức hữu hiệu làm thừa tác viên hiện thân của Đức Kitô, mới có khả năng cử hành Bí tích Thánh Thể.

Thánh Thể được cử hành hợp pháp do tư tế không bị cản trở giáo Luật và giữ những qui định của các điều Luật sau đây.". (Can.900)

Những giáo sĩ chưa lãnh nhận Chức Linh mục mà cả gan cử hành Bí tích Thánh Thể, người ấy sẽ bị hình phạt huyền chức tiền kết (latae sententiae suspentionis) hoặc nếu là giáo dân thì sẽ bị hình phạt cấm chế tiền kết (latae sententiae interdicti) (xem c.1378,2).

Những Linh mục đã bị tuyên án vạ tuyệt thông hay tuyên án cấm chế cũng không được phép cử hành Bí tích Thánh Thể (xem c.1331,1; c.1332). Linh mục nào bị tuyên án hình phạt huyền chức có thể cũng không được phép cử hành Bí tích này (xem c. 1333,1).

"Linh Mục không nên bỏ qua việc dọn mình xứng đáng trước khi dâng lễ và cám ơn sau Thánh Lễ.". (Can.909).

138.- THÁNH LỄ ĐỒNG TẾ

"Trừ khi ích lợi của các tín hữu đòi hỏi hay khuyến khích cách khác, các tư tế có thể đồng tế Thánh Lễ. Tuy nhiên, mỗi người hoàn toàn tự do cử hành lễ Thánh Thể một mình, miễn là không cùng một lúc với lễ đồng tế trong cùng một nhà thờ hay nhà nguyện.". (Can.902).

Việc các tư tế đồng tế Thánh Lễ đã có ngay từ những thế kỷ đầu tiên của Giáo Hội.

Bộ Giáo Luật 1917 chỉ cho phép đồng tế trong hai trường hợp: Thánh Lễ Truyền Chức Linh mục và Thánh Lễ Thánh Hiến Giám Mục. Hiến Chế Sacrosanctum Concilium (57) cho phép đồng tế trong các dịp sau:

1. Thánh Lễ Truyền Dầu và trong Thánh Lễ Tiệc Ly, chiều ngày thứ năm Tuần Thánh.

2. Các Thánh Lễ khi họp Công Đồng.

3. Các Thánh Lễ khi các Giám Mục Hội họp.

4. Các Thánh Lễ khi họp Thượng Hội đồng Giám Mục.

5. Thánh Lễ phong chức Đan Viện Phụ.

Hiến chế cũng ban quyền cho các Giám Mục được cho phép đồng tế trong những trường hợp sau:

1. Thánh Lễ trong các nhà dòng.

2. Thánh Lễ chính trong các nhà thờ.

3. Khi các Linh mục Hội họp.

Thánh Bộ Phụng Tự tuyên bố ngày 12-1-1965 rằng: "Các Giám Mục giáo phận có quyền ấn định các cách thức và những trường hợp đồng đồng tế, đồng thời qui định các qui tắc cho việc đồng tế trong địa phận thuộc quyền".

Trong Bản Dẫn Giải Eucharisticum Mysterium, Thánh Bộ Phụng tự nói thêm rằng: "Vẫn tôn trọng việc cử hành Thánh Lễ riêng, nhưng đồng tế tốt hơn, nhất là trong trường hợp các giáo sĩ sống chung với nhau, cùng nhau Hội họp, ở cùng trong một vùng, trong chủng viện, các học xá v.v... ".

Ngày 7-12-1972, Thánh Bộ Phụng tự công bố một tuyên ngôn liên hệ đến việc Đồng tế như sau: Chỉ có các Linh mục đã phải dâng lễ vì nhu cầu mục vụ cho giáo dân mới được phép dâng lễ lần thứ hai (binate) trong lễ đồng tế. Các trường hợp khác thì không được phép.

"Cấm các tư tế Công Giáo đồng tế Thánh Lễ với các tư tế hay thừa tác viên của các giáo Hội hay các giáo đoàn không thông hiệp hoàn toàn với Giáo Hội Công Giáo.". (Can.908).

Tại Việt Nam, Bản Năng Quyền Thập niên 1971-1980 lưu ý như sau: Trong các dịp lễ cưới, lễ giỗ, lễ an táng...các Đức Giám Mục không cho phép đồng tế, trừ ra lễ an táng Linh mục, Tu sĩ hay cha mẹ các vị ấy. (NQTN,3).

139.- CÁC LINH MỤC KHÔNG QUEN BIẾT

"Một tư tế có thể được vị quản đốc nhà thờ nhận cho làm lễ tuy không phải là người quen biết, miễn là tư tế xuất trình chứng thư do Bản Quyền hay Bề Trên cấp chưa quá một năm, hoặc có thể nhận định cách khôn ngoan rằng không có gì ngăn trở tư tế ấy được dâng lễ.". (Can.903)

Có ba trường hợp có thể xảy ra khi một Linh mục khách đến ngỏ ý muốn dâng lễ tại một nhà thờ hay nhà nguyện:

1. Một Linh mục khách không quen biết xuất trình chứng thư cấp do Bản Quyền hay Bề Trên: Nên mời ngài dâng lễ.

2. Một Linh mục khách quen biết: Có thể mời ngài dâng lễ thường trực. Tuy nhiên, nếu ngài tỏ ý muốn lưu lại một thời gian lâu dài, phải liên lạc để biết ý kiến Giám Mục giáo phận nơi nhà thờ tọa lạc.

3. Một Linh mục khách không quen biết cũng không có chứng thư: Trong trường hợp này nên áp dụng điều 804,2 của Bộ Luật 1917: Cha khách có thể được cho phép dâng lễ một vài lần. (CIC.804,2)

Các Giám Mục giáo phận nên qui định những qui tắc về trường hợp Linh mục khách, để giúp các Linh mục trong địa phận tránh phải đối diện với những hoàn cảnh khó xử.

140.- DÂNG THÁNH LỄ MỖI NGÀY

"Các tư tế nên luôn tâm niệm rằng công việc cứu chuộc hằng được tiếp tục thi hành trong mầu nhiệm Hy Lễ Thánh Thể; do đó, họ nên siêng năng dâng lễ. Hơn nữa, rất đáng mong ước các tư tế dâng lễ mỗi ngày, cả khi giáo dân không thể hiện diện, bởi lẽ Thánh Thể là tác động của Đức Kitô và của Giáo Hội; chính khi cử hành Thánh Lễ mà các tư tế chu toàn nhiệm vụ chính yếu của mình.". (Can.904).

Điều 805 của Bộ Luật 1917 qui định rằng một Linh mục buộc phải đâng Thánh Lễ mỗi năm nhiều lần (Sacerdotes omnes obligatione tenentur Sacrum litandi pluries per anum). Nhưng các Giám Mục và các Bề Trên phải lưu ý các Linh mục thuộc quyền mình dâng lễ mỗi ngày Chúa Nhật và các ngày Lễ Buộc. (CIC.805).

Điều 207 của Bộ Luật 1983 qui định rằng:..các tư tế được khẩn khoản kêu mời hãy dâng Thánh Lễ mỗi ngày...(xem c.207,2-2).

Điều 904 khuyến khích các Linh mục nên siêng năng dâng lễ và mong ước các Linh mục dâng lễ mỗi ngày.

"Ngoại trừ những trường hợp giáo Luật cho phép cử hành hay đồng tế Thánh lễ nhiều lần trong một ngày, tư tế chỉ được quyền dâng lễ mỗi ngày một lần.

Nếu thiếu tư tế, Bản Quyền sở tại có thể cho phép các tư tế, khi có lý do chính đáng, được dâng hai lễ mỗi ngày; hơn nữa, khi nhu cầu mục vụ đòi hỏi, được dâng ba Thánh Lễ trong các ngày Chúa Nhật và Lễ Buộc.". (Can.905).

Thói quen dâng ba Thánh Lễ vào các Ngày lễ Giáng Sinh và Lễ Các Đẳng Linh hồn mỗi năm vẫn được cho phép. Còn những ngày khác, phải có phép của Bản Quyền. Trong trường hợp vì nhu cầu mục vụ, vào các ngày Chúa Nhật và Lễ buộc được phép dâng ba Thánh Lễ. Tuy nhiên, nếu có các Linh mục khách hay các Cha Dòng rỗi rảnh, nên mời họ giúp, dâng Thánh Lễ vào các ngày Chúa Nhật và Lễ Buộc.

Bản Năng Quyền Thập Niên 1971-1980 qui định như sau: Được cử hành Thánh Lễ hai hay ba lần trong một ngày, cả những ngày thường trong tuần, nếu thực sự nhu cầu đòi hỏi...Tỉ như một Cha coi sóc nhiều nơi, hoặc coi một nơi nhưng giáo dân đông và nhà thờ quá nhỏ, hoặc phải dâng lễ ban sáng cho một số giáo hữu, rồi lại một lễ ban chiều cho một số giáo hữu nữa đi làm về, hoặc một Cha phải đi dâng lễ cho giáo hữu, rồi phải dâng thêm lễ Hôn phối hay lễ an táng vào giờ muộn hơn.

- Nguyên vì lý do đồng tế thì không được dâng lễ hai hoặc ba. Trong trường hợp một nơi có hai, ba Cha hoặc một Cha nhưng có thể dễ dàng nhờ Cha khác (tỉ dụ Cha khách) dâng một lễ thì không được dùng năng quyền này. Đàng khác, cũng không được dâng hai lễ để cho cùng một số giáo hữu đã dự lễ sáng lại được dự lễ chiều một lần nữa. (NQTN.4). .

Thứ Năm, thứ Sáu Tuần Thánh và Vọng Phục Sinh cho phép các Linh mục coi sóc giáo hữu được cử hành các lễ nghi hai lần, không những trong nhà thờ, mà trong cả các nơi quen cử hành Thánh Lễ cho giáo dân.

- Nghi lễ Vọng Phục Sinh, nếu có lý do chính đáng thật, thì cũng được cử hành ngay ban chiều.(NQTN.6).

141.- CHỦ TẾ VÀ NGƯỜI GIÚP LỄ

"Nếu không có lý do chính đáng và hợp lý, tư tế không được cử hành Lễ Thánh Thể nếu không có ít là một vài giáo dân tham dự.". (Can.906).

Đức Giáo Hoàng Alexander III (1159-1181) ban hành Luật buộc buộc phải có người giúp lễ và thưa lễ khi Linh mục dâng lễ. Giáo Luật vẫn giữ điều buộc này. Tuy nhiên, khi có lý do chính đáng và hợp lý, các Linh mục có thể dâng lễ một mình.

Lý do chính đáng và hợp lý: Nguyên ước muốn được kết hiệp với Chúa trong Hy Lễ Thánh Thể đã được kể là lý do chính đáng và hợp lý. (xem c.904).

"Trong khi cử hành Thánh Lễ, Phó tế và giáo dân không được phép đọc các lời nguyện, nhất là Kinh Nguyện Thánh Thể, hay làm những công việc chỉ dành riêng cho tư tế chủ lễ.". (Can.907).

142.- THỪA TÁC VIÊN CHO RƯỚC LỄ

"Thừa tác viên thông thường cho rước lễ là Giám Mục, Linh mục và Phó tế. Thừa tác viên ngoại thường cho rước lễ là những người lãnh tác vụ giúp lễ và các tín hữu nào khác được chỉ định theo điều 230,3.". (Can.910).

Tự Sắc Sacrum Diaconatus ngày 18-6-1967 ban phép cho các Phó tế vĩnh viễn năng quyền trao Mình Thánh Chúa cho chính mình và cho người khác, kể cả việc đem Mình Thánh Chúa như của ăn đàng cho những người đau ốm.

Ngày 29-1-1973. Thánh Bộ các Bí tích ấn định những điều sau đây:

1. Bản Quyền sở tại có thể chỉ định những thừa tác viên ngoại thường trao Mình Thánh Chúa trong những hoàn cảnh đặc biệt và trong thời gian nhất định. Người được chỉ định sẽ được phép trao Mình Thánh Chúa cho chính mình và cho người khác, đồng thời nếu trong trường hợp vắng các Linh mục hay Phó tế, họ có thể đem Mình Thánh Chúa đến cho những người đau ốm không đến tham dự Thánh Lễ tại nhà thờ được.

2. Hơn nữa, Bản Quyền có thẩm quyền ủy thác cho các Linh mục đang thi hành công tác mục vụ được phép mời người trao Mình Thánh Chúa từng lần (per modum actus). Những người được mời này được liệt kê theo thứ tự ưu tiên như sau:

(1) Những người có tác vụ đọc sách;

(2) các đại chủng sinh;

(3) các Tu sĩ nam nữ.

Giáo Luật ấn định rằng: Nơi nào nhu cầu Giáo Hội đòi hỏi và thiếu thừa tác viên, thì các giáo dân dù không có tác vụ đọc sách và giúp lễ, cũng có thể thay thế họ làm một số việc, tỉ như thi hành tác vụ Lời Chúa, chủ tọa các buổi cầu nguyện, rửa tội và cho rước lễ theo các qui tắc Luật định. (xem c.230,3).

Dù trong trường hợp nào, các thừa tác viên ngoại thường này vẫn cần được tuyển chọn và hướng dẫn về công việc họ làm. Những ai không thích hợp thì không nên chỉ định họ vào công tác thánh.

143.- VIATICUM (CỦA ĂN ĐÀNG).

"Các Kitô hữu lâm cơn nguy tử, dù vì bất cứ lý do nào, cần được bổ dưỡng bằng việc rước lễ như của ăn đàng.

Cho dù ngày hôm ấy họ đã rước lễ rồi, cũng rất nên cho họ rước lễ nữa nếu mạng sống họ bị lâm nguy.

Bao lâu cơn nguy tử kéo dài, nên cho họ rước lễ nhiều lần, vào những ngày khác nhau.". (Can.921).

"Những người có bổn phận và quyền đem Mình Thánh Chúa như của ăn đàng đến cho người đau ốm là: Cha Sở, các Cha phó xứ, các Tuyên Úy, các Bề Trên cộng đoàn của các dòng tu giáo sĩ hay tu đoàn Tông đồ giáo sĩ đối với mọi người ở trong nhà.

Trong trường hợp khẩn thiết, hoặc khi có phép, ít ra là suy đoán, của Cha sở, Cha Tuyên Úy hay Bề Trên tu viện, bất cứ Linh mục hay thừa tác viên cho rước lễ nào cũng đều phải đem Mình Thánh như của ăn đàng cho bệnh nhân; nhưng sau đó, phải thông báo cho các người hữu trách nói trên.". (Can.911).

144.- NHỮNG AI ĐƯỢC RƯỚC LỄ

"Bất cứ ai đã chịu phép Rửa Tội và không bị luật cấm, đều có thể và được nhận cho rước lễ.". (Can.912).

Việc lãnh nhận Mình Thánh Chúa được ấn định do Thiên Luật: Vì Bí tích Rửa tội là cửa ngõ vào các Bí tích khác nên một tín hữu đã lãnh nhận hữu hiệu Bí tích Rửa tội có quyền dự phần trong Bí tích Mình Thánh Chúa. Người chưa rửa tội không có quyền dự phần. Chính quyền lợi này của tín hữu tạo thành một điều buộc cho các tư tế: Thừa tác viên thánh không được từ chối ban Bí tích khi có người xin lãnh nhận một cách thích đáng, đã được chuẩn bị hợp lệ và không bị giáo Luật cấm nhận lãnh Bí tích. (xem c.843,1; số 106).

145.- VIỆC RƯỚC LỄ DƯỚI HAI HÌNH

Trong những thế kỷ đầu, khi cử hành Bí tích Thánh Thể, mọi người tham dự đều được rước lễ với cả Mình và Máu Thánh. Đến thế kỷ XII, với nhiều lý do khác nhau, Giáo Hội chỉ cho phép rước Mình Thánh. Công đồng Constanza năm 1415 qui định thành điều Luật: Những người tham dự chỉ rước Mình Thánh mà thôi.

"Mình Thánh sẽ được trao chỉ dưới hình thức bánh, hay cả dưới hai hình thức tùy theo qui Luật phụng vụ; trong trường hợp cần thiết, cũng có thể chỉ dưới hình thức rượu.". (Can.925).

Qua Bản Dẫn giải Eucharistiae Mysterium ngày 25-5-1967, Thánh Bộ Các Nghi Thức ấn định các trường hợp mọi người tham dự được rước Mình và cả Máu Thánh như sau:

1. Những người tân tòng trong Thánh Lễ Rửa tội của họ; Những mgười lớn trong Thánh lễ họ nhận lãnh Bí tích Thêm Sức; Người được nhận vào Giáo Hội Công Giáo sau khi đã rửa tội ở một giáo phái khác trong thánh lễ đón nhận họ.

2. Đôi tân hôn trong Thánh Lễ Hôn Phối của họ.

3. Các Tân Chức trong Thánh Lễ truyền chức.

4. Nữ tu viện trưởng trong Thánh Lễ nhận chức; Các trinh nữ trong Thánh Lễ thánh hiến; các tu sĩ khấn hay lập lại lời khấn trong Thánh Lễ.

5. Những giáo dân được chỉ định vào những chức vụ của Giáo Hội, hay nhận lãnh một công việc do Giáo Hội giao phó trong Thánh Lễ nhận chức vụ hay công việc.

6. Cho người đau yếu và những người hiện diện trong Thánh lễ Viaticum tại nhà người bệnh.

7. Cho những Phó tế và những thừa tác viên khác giúp trong Thánh Lễ Giáo Triều hay Thánh Lễ trọng thể.

8. Trong các Thánh Lễ đồng tế:

- Những người giúp lễ dù là giáo dân; các chủng sinh tham dự.

- Trong nhà nguyện của nhà dòng, các dòng tu, các tu Hội, cho tất cả các thành viên thuộc dòng dù có lời khấn hay không và cả những người khách trú tại đó.

9. Cho tất cả các Linh mục hiện diện nhưng không đồng tế.

10. Cho những người đang tĩnh tâm, cấm phòng trong các Thánh Lễ cử hành trong thời gian tĩnh tâm hay cấm phòng; cho các thành viên họp mặt trong kỳ họp mặt Hội thảo về mục vụ, trong các Thánh Lễ cử hành tại đó.

11. Cho những người nói đến trong mục 2 và 4 nêu trên, trong Thánh Lễ kỷ niệm hàng năm của họ.

12. Cho các cha mẹ đỡ đầu, người phối ngệu, những người dạy giáo lý trong Thánh lễ của một người lớn lãnh nhận các Bí tích khai tâm.

13. Cho cha mẹ, những người ân nhân của một Linh mục trong Thánh Lễ phong chức của Linh mục ấy.

146.- CÁC TRẺ EM RƯỚC LỄ LẦN ĐẦU

"Để được rước lễ, các trẻ em phải có ý thức đầy đủ và được chuẩn bị chu đáo ngõ hầu các em nhận biết mầu nhiệm Chúa Kitô tùy theo khả năng của mình, và có thể lãnh lấy Mình Chúa với lòng tin và sùng kính.

Tuy nhiên, có thể cho trẻ em lâm cơn nguy tử rước lễ (dù chưa rước lễ lần đầu) , nếu các em có thể phân biệt Mình Chúa Kitô khác với của ăn thông thường và kính cẩn rước lễ.". (Can.913).

Thánh Thomas cho rằng bất cứ trẻ em nào đã biết tỏ dấu kính thờ Mình Thánh Chúa đều có thể cho các em rước lễ. (III, q.8, a.9). Trong trường hợp nguy tử, các em nào biết phân biệt Mình Thánh Chúa khác với của ăn thường đều có thể cho rước lễ được.

Trong trường hợp bình thường, nếu các em muốn được rước lễ, các em cần được chuẩn bị chu đáo hơn hầu các em có một kiến thức rõ ràng về Mình Thánh Chúa.

Bộ Giáo Luật 1917 đòi hỏi để lãnh nhận Mình Thánh Chúa, các em phải có những kiến thức như sau:

- Biết có Thiên Chúa, Đấng thưởng phần cho người lành và phạt người dữ ở đời sau.

- Biết về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi.

- Biết Ngôi Hai xuống thế làm người, chịu khổ nạn, chịu chết, sống lại để chuộc tội cho nhân loại.

- Biết bánh lễ và rượu lễ, sau khi truyền phép, trở thành Mình Thánh và Máu Thánh Chúa Giêsu Kitô. (xem thêm c.843; số 107).

"Trước tiên là cha mẹ, rồi đến những người thay quyền cha mẹ và kể cả Cha Sở, có bổn phận lo cho các trẻ em đã đủ trí khôn dọn mình thích đáng để có thể sau khi đã xưng tội, các em được bổ dưỡng nhờ của ăn thần linh này càng sớm càng tốt. Cha Sở cũng có bổn phận canh chừng không cho các trẻ em rước lễ khi chúng chưa đủ trí khôn hoặc chưa chuẩn bị đủ.". (Can.914).

Điều 97,2 qui định rằng: Vị thành niên, trước khi được bảy tuổi trọn được gọi là nhi đồng, và được coi như không tự chủ; một khi đã được bảy tuổi trọn thì được suy đoán là biết xử dụng trí khôn.

Theo tinh thần này, có thể nói rằng những trẻ em khi được trọn bảy tuổi là lúc các em biết xử dụng trí khôn, những người liên hệ hãy giúp các em chuẩn bị để lãnh nhận lần đầu tiên Bí tích Giải tội và Bí tích Mình Thánh Chúa.

Điều Luật qui định rõ ràng:"...để có thể sau khi xưng tội, các em được bổ dưỡng nhờ của ăn thần linh này...". Nghĩa là việc lãnh nhận Bí tích Giải tội phải xảy ra trước việc lãnh nhận Bí tích Mình Thánh Chúa.

147.- CẤM KHÔNG ĐƯỢC RƯỚC LỄ

"Ai ý thức mình phạm tội nặng và chưa xưng tội trước thì không được dâng lễ và không được rước lễ, trừ khi có lý do quan trọng và không có dịp tiện đi xưng tội. Trong trường hợp này, họ phải tâm niệm về bổn phận thống hối trọn vẹn bao gồm lòng dốc quyết đi xưng tội sớm ngần nào có thể.". (Can.916).

Trong thư gửi cho tín hữu thành Côrintô, Thánh Phaolô đã viết: "Cho nên kẻ ăn Bánh hay uống Chén của Chúa cách bất xứng, tất nhiên sẽ mắc tội đối với Mình và Máu Chúa. Vậy thì người ta hãy tự hạch xét chính mình, rồi như vậy mới ăn Bánh ấy và uống chén ấy. Vì kẻ ăn và uống mà không phân biệt được thân mình, túc là ăn và uống chén phạt cho mình." (Cor.11,27-29).

Trong thực tế, nếu rơi vào hoàn cảnh bất xứng này mà ước ao muốn được rước lễ hay dâng lễ, một người có thể "tâm niệm về lòng thống hối trọn vẹn" và dốc quyết sẽ đi xưng tội trong dịp nào sớm nhất có thể được.

"Không được nhận cho rước lễ: những người bị vạ tuyệt thông và cấm chế sau khi hình phạt đã tuyên kết hay tuyên bố; kể cả những người cố chấp trong một tội nặng công khai.". (Can.915).

148.-RƯỚC LỄ NHIỀU LẦN TRONG MỘT NGÀY

Điều 857 của Bộ Luật 1917 lập lại một qui tắc đã có lâu đời trong Giáo Hội từ thời sơ khai: "Không một tín hữu nào trong ngày đã rước lễ một lần rồi mà còn được phép rước lễ thêm một lần nữa cùng trong ngày đó.". (CIC.857).

Trong những năm gần đây, Tòa Thánh cho phép mọi tín hữu được rước lễ hai lần trong cùng một ngày.

Bản Dẫn giải Inter Oecumenici, ngày 26-9-1964 (CBTT.56, 1964, 877-900, số 60), cho phép các tín hữu đã rước lễ trong Thánh Lễ Vọng Phục sinh và trong Thánh Lễ Đêm Giáng sinh được rước lễ một lần nữa trong Thánh Lễ ngày hôm sau.

Bản Dẫn giải Eucharisticum Mysterium số 28, cho phép những người tham dự Thánh Lễ Chiều thứ bảy thay cho ngày Chúa Nhật, hay Thánh Lễ cử hành chiều hôm trước của một ngày lễ buộc, được phép rước lễ, dù buổi sáng đã rước lễ trong một Thánh Lễ khác.

Bản Dẫn giải Tres Abhinc annos, ngày 4-5-1967 (CBTT.49, 1967, 445, số 14), cho phép những tín hữu đã rước lễ trong Thánh Lễ Truyền Dầu ngày Thứ Năm Tuần Thánh, được rước lễ một lần nữa trong Thánh Lễ buổi chiều cùng ngày.

Bộ Giáo Luật 1983 rộng rãi hơn:

"Ngoại trừ qui định ở điều 921,2, ai đã rước lễ rồi thì có thể rước lễ một lần nữa trong ngày đó, nhưng chỉ ở trong Thánh lễ mà họ tham dự.". (Can.917). (xem thêm số 143).

Từ ngữ "một lần nữa", đã được Ủy Ban Chú Giải Giáo Luật của Tòa Thánh giải thích chính thức ngày 11-6-1964: "chỉ một lần nữa thôi". (CBTT.76, 1984, tr.746). Như vậy, rõ ràng là mỗi tín hữu chỉ được rước lễ hai lần là tối đa trong cùng một ngày trong hai Thánh Lễ họ tham dự, không kể qui định của điều 921,2 trong trường hợp rước lễ như Của Ăn Đàng.

"Hết sức khuyến khích các tín hữu rước lễ trong chính Thánh lễ. Tuy nhiên, nếu có người xin với lý do chính đáng, thì có thể cho rước lễ ngoài Thánh Lễ, miễn là giữ các nghi thức phụng vụ.". (Can.918).

Trong trường hợp một người đi xa không kịp chuẩn bị, vì thế không có dịp tham dự Thánh Lễ và rước lễ, trước khi lên đường có thể xin rước lễ ngoài Thánh Lễ, tuy phải giữ những nghi thức phụng vụ đòi buộc. Các tư tế không nên từ chối trong những trường hợp có lý do chính đáng và hợp lệ.

149.- GIỮ CHAY TRƯỚC KHI RƯỚC LỄ

"Ai muốn rước lễ phải kiêng ăn và uống, chỉ trừ nước lã và thuốc men, ít là một giờ trước khi rước lễ.

Tư tế nào dâng lễ hai hay ba lần trong một ngày có thể ăn uống chút đỉnh trước lễ thứ hai hoặc lễ thứ ba, cho dù quãng cách thời gian không đủ một giờ.

Những người cao niên, những người đau yếu và cả những người săn sóc họ, có thể rước lễ, cho dù đã ăn uống chút đỉnh trong vòng một tiếng trước đó.". (Can.919).

150.- RƯỚC LỄ MỘT LẦN TRONG NĂM.

"Mọi tín hữu, sau khi rước lễ vỡ lòng, buộc phải rước lễ mỗi năm một lần.

Mệnh lệnh này phải được chu toàn vào Mùa Phục Sinh, trừ khi có lý do chính đáng, có thể chu toàn vào mùa khác trong năm.". (Can.920)

Luật rước lễ ít là một lần trong một năm, khi có lý do chính đáng, có thể chu toàn vào bất cứ khoảng thời gian nào trong năm, tuy nhiên, nếu chu toàn được vào dịp Phục sinh là tốt nhất.

151.- RƯỚC LỄ NHƯ CỦA ĂN ĐÀNG

"Các Kitô hữu lâm cơn nguy tử, dù vì bất cứ lý do nào, cần được bổ dưỡng bằng việc rước lễ như của ăn đàng.

Cho dù ngày hôm ấy họ đã rước lễ rồi, cũng rất nên cho họ rước lễ nữa nếu mạng sống họ bị lâm nguy.

Bao lâu cơn nguy tử kéo dài, nên cho họ rước lễ nhiều lần, vào những ngày khác nhau.". (Can.921)

"Không được khoan giãn việc đem của ăn đàng cho bệnh nhân. Các Chủ chăn phải cẩn thận canh chừng để các bệnh nhân được bổ dưỡng khi còn tỉnh trí.". (Can.922)

Của ăn đàng (viaticum) cần thiết cho các tín hữu trong cơn nguy tử, hiểu cả về phần xác cũng như phần thiêng liêng như trong trường hợp những người già cả, yếu đau hay bị tai nạn, v.v...Trao và lãnh nhận của ăn đàng là những trách nhiệm buộc cách nghiêm ngặt cả các Chủ chăn và người đau yếu.

Các Chủ chăn nên thường xuyên thăm viếng những tín hữu già cả, yếu đau để theo dõi tình trạng của họ và trợ giúp họ phần thiêng liêng. Các Chủ chăn cũng nên khuyến khích và chỉ dẫn cho thân nhân hay những người liên hệ với người bệnh về ý nghĩa của "của ăn đàng", đừng để quá muộn, đến khi người bệnh không còn tỉnh trí nữa.

Trong trường hợp những người vào buổi sáng còn khỏe và rước lễ trong Thánh lễ họ tham dự, nhưng buổi chiều lâm cơn yếu liệt hay một hoàn cảnh bất trắc nào đó, cũng nên trao của ăn đàng cho họ (per modum Viatici) , tuy rằng không bó buộc.

152.- CHẤT LIỆU BÍ TÍCH THÁNH THỂ

"Hy lễ Thánh Thể phải được cử hành bằng bánh và rượu có pha chút nước.

Bánh phải làm bằng bột mì tinh tuyền và còn mới để tránh nguy cơ hư mốc.

Rượu phải là rượu tự nhiên từ trái nho và không bị hư chua.". (Can.924)

Trong bữa Tiệc Ly, chính Chúa Kitô đã dùng bánh và rượu. Do dó, bánh và rượu trở thành chất thể của Bí tích Thánh Thể và qua lời truyền phép, bánh và rượu trở thành (transubstantiatio) Mình Máu Chúa Kitô.

Bánh phải được làm bằng bột mì tinh tuyền, các loại bột ngò cốc khác không được coi là những chất thể hợp pháp.

"Theo truyền thống lâu đời của Giáo Hội Latin, khi cử hành Thánh Thể bất cứ ở đâu, tư tế phải dùng bánh không men.". (Can.926)

Rượu phải được cất từ nước cốt nho nguyên chất, bất cứ một loại rượu nào khác đều làm cho việc cử hành Bí tích Thánh Thể bất hợp pháp. Dù cho rằng theo phong tục tập quán dân sự của địa phương, người ta thường thay thế rượu nho nguyên chất bằng một loại rượu đặc chế nào đó.

"Cho dù nhu cầu khẩn thiết tột độ, tuyệt đối cấm chỉ truyền phép một chất thể này mà không có chất thể kia, hoặc truyền phép cả hai chất thể ở ngoài Thánh lễ.". (Can.927)

Cả hai chất thể phải được truyền phép theo như nghi thức đã qui định trong Luật phụng vụ về Bí tích Thánh Thể. Điều Luật 899 qui định: "Việc cử hành Thánh Thể là một tác động của chính Chúa Kitô và của Giáo Hội. Trong việc cử hành này, Chúa Giêsu Kitô. qua tác vụ của tư tế, hiện diện trót bản tính dưới hình thức bánh và rượu, dâng chính mình cho Đức Chúa Cha, trao mình làm lương thực thiêng liêng cho các tín hữu kết hợp với lễ tế của Ngài. (xem c.899,1). Lương thực thiêng liêng bao gồm thịt và máu Ngài hiện diện trong Hy tế Thánh Thể.

153.- NGHI THỨC VÀ NGÔN NGỮ

"Thánh Lễ được cử hành bằng tiếng Latin hay bằng tiếng nào khác, miễn là các bản văn phụng vụ đã được phê chuẩn hợp lệ.". (Can.928)

Ngôn ngữ chính thức của Giáo Hội Công Giáo Latin vẫn là Latin. Tuy nhiên, việc canh tân phụng vụ trong những năm gần đây cho phép được cử hành các Bí tích bằng ngôn ngữ địa phương. Dầu vậy, tất cả các bản văn không bằng ngôn ngữ Latin trước khi dùng, phải được chấp thuận và phê chuẩn do Tòa Thánh.

Việc xử dụng các bản dịch không chính thức hay tự ý tư tế thêm vào hay bớt đi nguyên bản văn Latin hay một bản văn đã được phê chuẩn chính thức do Tòa Thánh, làm cho việc cử hành Hy tế Thánh Thể bất hợp pháp.

154.- PHẨM PHỤC VÀ DÀNG ĐIỆU KHI CỬ HÀNH

"Tư tế và Phó tế khi cử hành Thánh Thể và khi giúp lễ phải mặc y phục thánh như chữ đỏ qui định.". (Can.929)

Phần 81 trong Qui chế Tổng Quát của Sách Lễ Rôma (Institutio Generalis Missalis Romani) ấn định về y phục thánh như sau:

- Sắc phục của Linh mục và các thày giúp tùy theo hình thức cử hành Thánh lễ.

- Linh mục sẽ mặc khăn vai, áo dài trắng (Alba), dây lưng (Cingulum), dây cổ (Stola) và áo lễ (planeta).

- Thày Phó tế: khăn vai, áo dài trắng, dây lưng, dây cổ và áo phó tế (dalmatica).

- Thày Phụ phó tế: Khăn vai, áo choàng trắng và áo phụ phó tế (tunica).

- Cho các người khác giúp lễ: khăn vai, áo dài trắng, dây lưng; có thể thay áo dài trắng bằng áo làm phép.

Phần 20 trong Qui chế Tổng Quát của Sách Lễ Rôma (Institutio Generalis Missalis Romani) ấn định về cử chỉ và dáng điệu khi cử hành Hy tế Thánh Thể như sau:

Để có thể có sự đồng nhất trong cử điệu và dáng điệu, giáo dân hãy tuân theo những lời chỉ bảo của Thày Phó tế, hoặc Linh mục hay người giúp lễ chỉ dẫn trong lúc cử hành Thánh lễ:

- Từ đầu ca nhập lễ cho đến hết Lời Nguyện đầu lễ: Mọi người đứng.

- Khi đọc các Bài đọc, Thánh Vịnh đáp ca trước Phúc Âm: Mọi người ngồi.

- Khi xướng Alleluia, Bài Phúc Âm, Kinh Tin Kính và Lời Nguyện Giáo dân: Mọi người đứng.

- Khi nghe diễn giảng, sửa soạn lễ vật trong phần dâng lễ: Mọi người ngồi.

- Lúc truyền phép: Mọi người quì.

- Lời nguyện trên lễ vật và từ Lời nguyện cuối lễ cho đến hết lễ:

Mọi người đứng.

155.- TRƯỜNG HỢP CÁC LINH MỤC ĐAU YẾU

"Tư Tế đau yếu và già cả, nếu không thể đứng được, có thể ngồi khi cử hành Thánh lễ, nhưng luôn phải giữ các Luật phụng vụ; tuy nhiên không được ngồi dâng lễ trước mặt dân chúng nếu không có phép của Bản Quyền sở tại.

Linh Mục mù lòa hay bị bệnh tật nào khác, vẫn có thể cử hành Thánh Lễ hợp pháp, khi dùng bất cứ bản văn Thánh Lễ nào đã được phê chuẩn, với sự hiện diện, nếu cần, của một Tư Tế khác hay một Phó tế hoặc một giáo dân đã được huấn luyện thích đáng để giúp.". (Can.930)

156.- NƠI VÀ THỜI GIAN CỬ HÀNH

"Có thể cử hành Thánh Thể và trao Mình Thánh ngày nào và giờ nào cũng được, ngoại trừ những trường hợp Luật phụng vụ không cho phép.". (Can.931)

Nếu tính thời gian của một ngày là từ giờ thứ 1 đến giờ thứ 24 thì trong Giáo Hội Công Giáo Latin chỉ có một ngày không được cử hành Bí tích Thánh Thể đó là ngày Thứ Sáu Tuần Thánh.

Mình Thánh Chúa được trao trong tất cả các Thánh Lễ hoặc ngay sau Thánh Lễ, tuy nhiên, với những người đau yếu, họ có thể lãnh nhận Mình Thánh Chúa bất cứ vào ngày nào và giờ nào.

"Thánh Thể phải được cử hành ở nơi thánh, trừ khi, trong trường hợp riêng, nhu cầu đòi hỏi cách khác; dù vậy, trong những trường hợp ấy, phải cử hành Thánh Lễ ở một nơi xứng đáng.

Hy Lễ Thánh Thể phải được cử hành trên một bàn thờ đã được cung hiến hay đã làm phép; ở ngoài nơi thánh, có thể cử hành trên một bàn xứng đáng, nhưng phải luôn có khăn phủ bàn và khăn thánh.". (Can.932)

Thánh lễ tại gia có thể được cử hành sau khi có phép của Bản Quyền. Bản Quyền có thẩm quyền nên lưu ý để tránh những trường hợp thiên vị tình cảm hoặc phân biệt giàu nghèo có thể tạo gương mù, gương xấu nơi các gia đình tín hữu.

"Khi có lý do chính đáng và có phép minh thị của Bản Quyền sở tại, tư tế được phép cử hành Thánh Thể trong đền thờ của một Giáo Hội khác hay của một giáo đoàn không hiệp thông hoàn toàn với Giáo Hội Công Giáo; nhưng phải đề phòng mọi gương xấu.". (Can.933)

157.- LƯU TRỮ THÁNH THỂ.

"Thánh Thể:

(1) Phải được lưu trữ trong nhà thờ chính tòa hoặc nhà thờ tương tự, trong nhà thờ giáo xứ, trong nhà thờ hay nhà nguyện của một tu viện hoặc của một tu đoàn tông đồ;

(2) Có thể được lưu trữ trong phòng nguyện của Giám Mục, và nếu có phép của Bản Quyền sở tại, trong các nhà thờ, nhà nguyện và phòng nguyện khác.

Tại những nơi lưu trữ Thánh Thể, luôn luôn phải có người chăm nom và trong mức độ có thể, một Tư tế phải cử hành Thánh Lễ ít nhất mỗi tháng hai lần.". (Can.934)

"Không ai được phép giữ Thánh Thể trong mình, hoặc đem đi đường với mình, trừ khi nhu cầu mục vụ khẩn trương đòi hỏi, và phải giữ các chỉ thị của Giám Mục giáo phận.". (Can.935)

"Trong nhà của một Dòng Tu hay trong một nhà đạo đức nào khác, chỉ được lưu trữ Thánh Thể trong nhà thờ hay nhà nguyện chính gắn liền với nhà ấy; tuy nhiên, khi có lý do chính đáng, Bản Quyền có thể cho phép lưu trữ Thánh Thể cả ở trong nhà nguyện khác của cùng một nhà.". (Can.936)

"Nếu không có một lý do quan trọng ngăn trở, nhà thờ lưu trữ Thánh Thể phải được mở cửa mỗi ngày ít ra một vài giờ, để giáo dân có thể cầu nguyện trước Mình Thánh.". (Can.937)

Các nguyên tắc phải theo trong việc lưu trữ Thánh Thể:

1. Thánh Thể thường chỉ được lưu trữ trong một nhà tạm của nhà thờ hay nhà nguyện.

2. Nhà tạm lưu trữ Thánh Thể được đặt vào một vị trí cao trọng và dễ nhìn thấy trong nhà thờ hay nhà nguyện; lại phải được trang hoàng đẹp đẽ và thuận tiện cho việc cầu nguyện.

3. Nhà tạm lưu trữ Thánh Thể thường xuyên phải bất di dịch, làm bằng chất liệu vững chắc, không nhìn qua được và phải khóa cẩn thận để tránh tối đa nguy cơ xức phạm.

4. Vì lý do quan trọng, được phép lưu trữ Thánh Thể, nhất là ban đêm, trong một nơi khác xứng đáng và an toàn hơn.

5. Người coi sóc nhà thờ hay nhà nguyện phải liệu giữ chìa khóa nhà tạm lưu trữ Thánh Thể thật chu đáo.". (Can.938)

"Phải giữ trong bình thánh đủ số Bánh Thánh cần thiết cho tín hữu; phải năng thay bánh mới khi đã tiêu thụ hợp lệ hết bánh cũ.". (Can.939)

Bình thánh (ciborium hay pyx) có thể được làm bằng bất cứ chất liệu quí giá nào theo quan niệm tại địa phương.

Nếu trong trường hợp cần lưu trữ Máu Thánh thì bình đựng phải có nắp đậy chắc chắn và đặt trong nhà tạm. Khi di chuyển phải hết sức cẩn thận để tránh sự thất thoát.

"Trước nhà tạm lưu trữ Thánh Thể, phải luôn luôn thắp một chiếc đèn đặc biệt, để ghi dấu và tôn kính sự hiện diện của Chúa Kitô.". (Can.940)

Bộ Giáo Luật 1917 khi nói đến chiếc đèn đặc biệt này, ám chỉ những loại đèn thắp bằng sáp ong hay dầu thảo mộc, dầu ôliu là tốt nhất. Tuy nhiên, với những thích ứng mới trong việc trang hoàng cung thánh, những người liên hệ trong trách nhiệm săn sóc bàn thờ có thể dùng các loại đèn khác, ngay cả đèn điện để thắp trước nhà tạm.

158.- CHẦU THÁNH THỂ

Trong các nhà thờ hay nhà nguyện được phép lưu trữ Thánh Thể, có thể đặt Bình Thánh hay Hào Quang ra ngoài để chầu Mình Thánh; miễn là phải tuân giữ các qui Luật phụng vụ. (xem c.941,1)

159.- THÁNH LỄ VÀ CHẦU THÁNH THỂ

Đang khi cử hành Thánh lễ, không được phép đặt Mình Thánh ra chầu trong cùng một gian chính của nhà thờ hay nhà nguyện. (xem c.941,2)

160.- CHẦU MÌNH THÁNH HẰNG NĂM.

"Trong các nhà thờ và nhà nguyện, khuyên nên tổ chức hàng năm một buổi chầu Mình Thánh trọng thể suốt một thời gian xứng hợp, cho dù không liên tục, ngõ hầu cộng đoàn địa phương suy niệm và thờ lạy mầu nhiện Thánh Thể cách sâu xa hơn.

Tuy nhiên, buổi chầu Mình Thánh như vậy chỉ nên tổ chức khi biết trước có đông giáo dân đến tham dự, và phải giữ trọn các qui Luật đã ban hành.". (Can.942)

161.- THỪA TÁC VIÊN CHẦU THÁNH THỂ

"Thừa tác viên đặt Mình Thánh ra chầu và ban phép lành Thánh Thể là Tư tế hay Phó tế. Trong những hoàn cảnh riêng, người đã lãnh tác vụ giúp lễ, thừa tác viên ngoại thường cho rước lễ hay một người nào khác được Bản Quyền chỉ định cũng được phép đặt và cất Mình Thánh, nhưng không được ban phép lành; song phải tuân giữ các chỉ thị của Giám Mục giáo phận.". (Can.943)

Mình Thánh được các thừa tác viên hợp lệ kiệu ra sau khi mở cửa nhà tạm đặt trên bàn thờ hay nơi nào xứng hợp và mọi người đều có thể chiêm ngắm. Sau một thời gian nhất định đã ấn định, nếu là tư tế hay phó tế, các ngài sẽ ban phép lành Mình Thánh trước khi đặt Mình Thánh vào nhà tạm; nếu không phải là tư tế hay phó tế, không được phép ban phép lành Mình Thánh.

Bất cứ những ai dù phái nam hay phái nữ, trong trường hợp không có sự hiện diện của tư tế hay phó tế và nếu họ là những thừa tác viên hợp lệ, đề có thể kiệu Mình Thánh cho mọi người chầu. Tuy nhiên, cần lưu ý đến các chỉ thị của Giám Mục địa phương trong việc Chầu Thánh Thể.

162.- RƯỚC KIỆU THÁNH THỂ

"Ở đâu Giám Mục giáo phận xét có thể được, nên tổ chức kiệu Mình Thánh qua các công lộ để tuyên chứng công khai lòng tôn kính Thánh Thể, đặc biệt trong ngày lễ kính trọng thể Mình và Máu Thánh Chúa Kitô.

Giám Mục giáo phận có thẩm quyền ra những chỉ thị về việc kiệu Thánh Thể, hầu bảo đảm việc tham dự và tính cách trang nghiêm của cuộc rước.". (Can.944)

163.- BỔNG LỄ

"Theo tập tục đã được Giáo Hội công nhận, một tư tế cử hành hay đồng tế Thánh Lễ được phép nhận bổng lễ để áp dụng theo một ý chỉ rõ rệt.

Hết sức khuyên nhủ các Linh Mục hãy dâng lễ theo ý chỉ của các tín hữu, nhất là những người nghèo, cả khi không có bổng lễ.". (Can.945)

Thánh Phaolô trong thư gửi cho giáo đoàn Corinthô đã viết: "Anh em không biết sao? những ai thi hành thánh vụ, thì được ăn lộc của đền thờ, và những kẻ hầu chực bàn thờ, thì cũng được chia lộc của bàn thờ. Cũng vậy, Chúa đã truyền rằng những kẻ rao giảng Tin Mừng cũng được sống nhờ Tin Mừng." (1Cor.9,13-14).

Dầu vậy, thật đáng ca ngợi các tư tế thường xuyên cử hành Hy tế Thánh Thể cầu nguyện theo ý chỉ của những người nghèo khó với một bổng lễ bé nhỏ hay nhiều khi không có gì cả.

164.- Ý NGHĨA CỦA BỔNG LỄ

"Khi dâng bổng lễ để Thánh Lễ được áp dụng theo ý chỉ của mình, các tín hữu đóng góp vào thiện ích của Giáo Hội; bằng việc dâng cứng ấy, họ góp phần nâng đỡ các thừa tác viên và các hoạt động của Giáo Hội.". (Can.946)

Kể từ thế kỷ thứ VII, Giáo Hội chính thức áp dụng việc nhận bổng lễ. Bổng lễ do đó, không phải là số tài vật trao đổi hay mua bán (simonia) cho việc cử hành Hy tế Thánh Thể, nhưng chính là một đóng góp của người tín hữu trong việc thực hiện những nghi thức phụng vụ và trợ giúp những thừa tác viên được trao phó trách nhiệm chu toàn việc thờ phượng.

165.- HÌNH THỨC CỦA CÁC BỔNG LỄ

"Trong vấn đề bổng lễ, phải xa tránh hoàn toàn mọi hình thức buôn bán hay thương mại.". (Can.947)

Không được phép nhận bổng lễ qua trung gian để nhận huê hồng, cũng không được phép chuyển bổng lễ với một số tài vật kém hơn số tài vật đã nhận từ người dâng cứng. Ai cả gan dám làm như vậy sẽ bị phạt vạ hay một hình phạt xứng đáng khác. (xem c.1385)

Người dâng cúng có thể dâng cúng bất cứ một loại hàng hóa nào thay vì tiền bạc cho việc xin dâng lễ theo ý chỉ của họ.

166.- MỘT BỔNG LỄ, MỘT THÁNH LỄ

"Phải áp dụng từng Thánh Lễ cho mỗi ý chỉ vì đó mà bổng lễ đã được dâng và nhận, cho dù bổng lễ đã nhận là bé nhỏ.". (Can.948)

Giữa tư tế nhận của dâng cứng và người dâng cứng xin được cử hành Thánh Lễ theo ý của họ hiện diện một khế ước, khế ước này phải được hoàn tất theo lẽ công bằng: Tư tế phải cử hành tất cả các số lễ đã đồng ý nhận dù cho bổng lễ là nhỏ bé.

"Ai có nghĩa vụ phải dâng lễ và áp dụng Thánh Lễ theo ý chỉ của người dâng bổng lễ vẫn còn trách nhiệm ấy cả khi bổng lễ bị mất không tại lỗi của mình.". (Can.949)

Theo tinh thần của một khế ước, khi đã được nhận, bổng lễ hoàn toàn lệ thuộc vị tư tế, bất cứ trong hoàn cảnh nào và việc gì xảy ra, người dâng cứng không còn chịu trách nhiệm nữa. Tuy nhiên, nếu bổng lễ do một nguyên cớ nào đó, còn dưới sự kiểm soát của người dâng cứng, nếu thất thoát, vị tư tế không phải chịu trách nhiệm.

"Khi tư tế dâng nhiều Thánh Lễ trong một ngày, có thể áp dụng mỗi Thánh Lễ theo một ý chỉ có bổng lễ dâng. Tuy nhiên, đừng kể ngày lễ Giáng Sinh, tư tế chỉ được hưởng một bổng lễ thôi, còn các bổng lễ khác phải được nhường về các mục đích do Bản Quyền qui định, tuy rằng đương sự có thể nhận một phần thù lao vì danh nghĩa ngoại tại.

Tư tế đồng tế Thánh Lễ thứ hai trong một ngày, không có quyền nhận bổng lễ nữa dưới bất cứ danh nghĩa nào.". (Can.951)

Trong các Thánh lễ thứ hai (binate) hoặc thứ ba (trinate) dâng trong ngày do cùng một tư tế, các bổng lễ từ những Thánh lễ này phải được thu xếp theo ý của Bản Quyền. Tuy nhiên, tư tế dâng những Thánh lễ này có thể nhận một phần của các bổng lễ ấy vì những lý do như: phí tổn di chuyển, tiền mua bánh, rượu, v.v...

Thánh Bộ Phụng tự ngày 7-8-1972 ra tuyên cáo rằng: Tuyệt đối cấm chỉ các tư tế nhận bổng lễ từ Thánh lễ đồng tế thứ hai trong cùng một ngày hay ngay cả trong trường hợp Thánh lễ thứ nhất đã dâng một mình cũng vậy. (CBTT.,64, 1972, tr.551-563)

167.- ẤN ĐỊNH BỔNG LỄ.

"Công Đồng Tỉnh hay Hội Đồng Giám Mục giáo tỉnh phải ra nghị định ấn định bổng lễ để áp dụng khi dâng Thánh Lễ trong toàn giáo tỉnh. Tư tế không được đòi bổng lễ cao hơn mức ấn định. Tuy nhiên, tư tế được phép nhận bổng lễ cao hơn khi người ta tự nguyện dâng cứng, cũng như được phép nhận bổng lễ thấp hơn.

Nơi nào không có nghị định đã nói, thì phải theo tập tục hiện hành trong địa phận.

Các phần tử thuộc bất cứ dòng tu nào cũng phải giữ nghị định hay thói quen của địa phương nói trên". (Can.952)

"Nếu người ta dâng một món tiền xin lễ mà không nói rõ số lễ phải dâng, thì số tiền ấy sẽ được chỉ định dựa theo giá bổng lễ hiện hành tại nơi người xin lễ cư trứ, trừ khi có lý do phỏng đoán hợp lệ là họ có hảo ý khác.". (Can.950)

168.- SỐ BỔNG LỄ ĐƯỢC PHÉP NHẬN

"Không ai được phép nhận cho mình nhiều bổng lễ đến độ không thể chu tất trong vòng một năm.". (Can.953)

"Nếu tại những nhà thờ hay nhà nguyện người ta xin cử hành Thánh Lễ quá số có thể cử hành ở đó, thì có thể cử hành ở nơi khác, trừ khi người xin lễ minh thị bày tỏ ý định ngược lại.". (Can.954)

Người dâng cứng xin cử hành Thánh lễ theo ý chỉ có quyền ấn định nơi dâng Thánh lễ do họ xin; Do đó, nếu họ đã minh định và nếu đã được chấp thuận, không được phép cử hành Thánh lễ theo ý chỉ họ đã xin đó ở một nơi khác.

169.- CHUYỂN BỔNG LỄ CHO NGƯỜI KHÁC

"Ai muốn chuyển ý lễ cho những người khác, thì phải chuyển sớm ngần nào có thể cho các tư tế muốn lãnh nhận, miễn là biết chắc chắn họ hoàn toàn đáng tín nhiệm.

Lại phải chuyển y nguyên bổng lễ đã nhận, trừ khi biết chắc rằng số tiền trội hơn giá bổng lễ trong giáo phận là do thiện cảm cá nhân.

Người chuyển ý lễ còn phải mang nghĩa vụ lo dâng lễ cho đến khi nào chắc chắn có người nhận nghĩa vụ dâng lễ và nhận bổng lễ.

Thời gian phải dâng lễ bắt đầu từ ngày nhận được ý lễ, trừ khi đã rõ cách nào khác.

Ai chuyển ý lễ cho người khác, phải lập túc ghi vào sổ cả những ý lễ đã nhận lện những ý lễ đã chuyển cho người khác, cũng như phải ghi bổng lễ nữa.

Mỗi Linh mục phải ghi cẩn thận những ý lễ đã nhận sẽ làm và những ý lễ đã làm xong.". (Can.955)

"Tất cả và mỗi người quản trị các thiện ý hay có trách nhiệm nào đó về việc lo dâng lễ, dù là giáo sĩ hay giáo dân, đều buộc phải chuyển về Bản Quyền của mình những ý lễ không dâng hết trong một năm, theo cách thế Bản Quyền đã ấn định.". (Can.956)

"Bổn phận và quyền lợi trông nom cho mọi ý lễ được chu toàn đối với các nhà thờ của giáo sĩ triều thì thuộc về thẩm quyền của Bản Quyền Sở tại; còn đối với nhà thờ của dòng tu hay tu đoàn tông đồ thì thuộc các bề trên của họ.". (Can.957)

"Cha Sở cũng như vị quản đốc nhà thờ hay cơ sở đạo đức khác, nơi quen nhận các bổng lễ, phải có cuốn sổ riêng, ghi chép cẩn thận số lễ phải dâng, ý lễ, bổng lễ và nghĩa vụ đã chu toàn.

Bản Quyền có bổn phận đích thân hay nhờ người khác, kiểm soát hằng năm các sổ sách đó.". (Can.958)

 


 
Top