|
Cẩm nang Giáo Luật Thực Dụng :
Mục Lục
TẬP BỐN: NHIỆM VỤ THÁNH HÓA CỦA GIÁO Hội
CHƯƠNG I : BÍ TÍCH RỬA TỘI.
111.- CỬA NGÕ CỦA CÁC BÍ TÍCH.
"Bí Tích Rửa tội là cửa ngõ vào các Bí Tích. Sự lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội cách thực sự hay ít ra bằng nguyện ước là điều cần thiết cho phần rỗi. Bí Tích Rửa Tội giải thoát con người khỏi tội lỗi, tái sinh họ làm con Chúa và kết nạp họ vào Giáo Hội, biến họ nên giống Chúa Kitô bằng ấn tích không thể xóa nhòa. Bí Tích này chỉ được ban hữu hiệu bằng việc rửa bằng nước nguyên chất kèm theo việc đọc đúng mô thức.". (Can.849).
Bộ Giáo Luật năm 1917 khi đề cập đến chất liệu của Bí Tích Rửa tội đã dùng từ ngữ "nước thật và tự nhiên" (aquae verae et naturalis). Bộ Giáo Luật 1983 chỉ dùng từ ngữ "nước thật" (aquae verae) , cả hai đều muốn ám chỉ nước không được pha thêm một chất liệu nào khác.
"Bí tích Rửa Tội được cử hành hoặc bằng cách dìm xuống nước, hoặc bằng cách đổ nước, tùy theo các quy Luật của Hội Đồng Giám Mục đã định.". (Can.854).
Mô thức được dùng để Bí tích thành sự đã được dùng từ thời Trung cổ: "Ta rửa con nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần. ".
Việc Rửa tội bằng máu hay bằng ước muốn như vẫn thường quan niệm không thật sự là Bí tích, do đó, một người cho rằng họ đã được rửa tội bằng một trong những cách thế này không có quyền lãnh nhận các Bí tích khác một cách hợp lệ.
112.- NGHI THỨC BÍ TÍCH RỬA TỘI:
"Phải ban Bí Tích Rửa Tội theo đúng nghi thức trong các sách phụng vụ đã được phê chuẩn, trừ khi trong trường hợp nhu cầu khẩn cấp, thì chỉ cần giữ những điều đòi buộc cho Bí Tích được hữu hiệu.". (Can.850).
Sách Nghi thức Rửa Tội cho trẻ em ban hành năm 1969; Sách Nghi thức Rửa Tội cho người lớn ban hành năm 1972. (xem số 108). Trong trường hợp nguy tử, sau khi đã thực hiện Bí tích, phải báo cho Cha Sở của đương sự biết để ghi vào sổ Rửa tội và nếu cần, sau đó trong một nghi thức bù. (nếu trong trường hợp đương sự qua khỏi cơn nguy tử.).
113.- CHUẨN BỊ RỬA TỘI.
"Việc cử hành Bí Tích Rửa Tội phải được chuẩn bị thích đáng. Vì vậy:
1. Người lớn muốn lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội, phải được nhận vào lớp dự tòng và, tùy mức độ có thể, được hướng dẫn khai tâm Bí Tích qua nhiều giai đoạn khác nhau; dựa theo đúng nghi thức khai tâm do Hội Đồng Giám Mục đã thích nghi cũng như các quy Luật riêng do Hội Đồng Giám Mục ban hành;
2. Cha mẹ của nhi đồng sắp được nhận Bí Tích Rửa Tội, cũng như những người sẽ lãnh trách nhiệm đỡ đầu, phải được giáo huấn đầy đủ về ý nghĩa của Bí Tích. Cha Sở, tự mình hay nhờ người khác, phải chăm lo huấn luyện đầy đủ các phụ huynh bằng những bài huấn dụ mục vụ, và kể cả bằng sự cầu nguyện chung, trong lúc Hội họp nhiều gia đình và bằng cách đi thăm viếng họ khi nào có thể.". (Can.851).
114.- RỬA TỘI NGƯỜI LỚN VÀ TRẺ EM
"Những điều quy định trong khoản Luật về Bí Tích Rửa Tội người lớn, cũng phải được áp dụng cho tất cả những ai đã quá tuổi nhi đồng và biết xử dụng trí khôn.
Trong vấn đề liên can đến Bí Tích Rửa Tội, người thiếu xử dụng trí khôn cũng được đồng hóa với nhi đồng.". (Can.852).
Những trẻ em dưới bảy tuổi được coi là nhi đồng, theo qui định của điều 97 . Được bảy tuổi trọn, theo Giáo Luật là đã biết xử dụng trí khôn. (xem số 146). Người thiếu xử dụng trí khôn được đồng hóa với nhi đồng theo qui định của điều 99.
Như thế, sẽ dùng Sách Nghi thức Rửa Tội cho người lớn khi rửa tội cho các trẻ em trên bảy tuổi.
115.- CHẤT LIỆU CỦA BÍ TÍCH RỬA TỘI .
"Trừ trường hợp khẩn thiết, nước dùng khi ban Bí Tích Rửa Tội buộc phải được làm phép, theo các quy Luật của sách phụng vụ.". (Can.853)
Thông thường, các thừa tác viên chủ sự cử hành Bí tích rửa tội làm phép nước theo công thức ấn định trong Nghi thức, ngoại trừ những trường hợp sau đây:
- Trong Mùa Phục sinh đã có sẵn nước được làm phép trong đêm Vọng Phục sinh; hay - Trong hoàn cảnh cấp thiết không có đủ thì giờ làm phép nước.
Nếu giếng rửa tội đã được thiết lập với hệ thống nước chảy, việc làm phép được thực hiện khi mở công tắc nước. Trong những địa phương với thời tiết băng giá, nước dùng để rửa tội có thể được hâm nóng trước.
116.- TÊN THÁNH KHI RỬA TỘI
Bộ Giáo Luật 1917 (CIC.761) qui định rằng khi rửa tội, mỗi người phải chọn tên của một vị Thánh làm tên của mình, với ý nghĩa rằng đời sống của Vị Thánh được chọn sẽ là tấm gương cho người được rửa tội noi theo. Bộ Giáo Luật 1983 không buộc phải chọn tên của một vị Thánh, có thể rửa tội ngay với tên gọi của người được rửa tội, miễn là tên gọi đó không có ý nghĩa ngược với ý nghĩa thông thường trong Giáo Hội Kitô Giáo:
"Cha mẹ, người đỡ đầu và Cha Sở phải lo liệu để đừng đặt một tên không hợp với ý nghĩa Kitô giáo.". (Can.855).
117.- NGÀY VÀ NƠI RỬA TỘI
"Mặc dầu có thể cử hành Bí Tích Rửa Tội vào bất cứ ngày nào, tuy nhiên, thường nên cử hành vào ngày Chúa Nhật, hay nếu có thể, vào đêm vọng Phục Sinh.". (Can.856).
Trong trường hợp rửa tội cho những người lớn, nên thu xếp để cho họ được rửa tội vào đêm Vọng Phục Sinh. Cả các trẻ em cũng vậy, nhưng vì những lý do mục vụ khác, bất cứ ngày Chúa Nhật nào thuận tiện và ngay cả ngày nào cũng có thể cử hành Bí tích Rửa tội như qui định sau đây:
Cha mẹ có bổn phận lo cho con mình được rửa tội ngay trong những tuần lễ đầu tiên. Vào dịp sớm nhất sau ngày sinh, hay kể cả trước ngày sinh, cha mẹ hãy đến gặp Cha Sở để xin rửa tội cho con và xin được chuẩn bị kỹ lưỡng về Bí Tích.". (Can.867).
"Ngoài trường hợp cần thiết, nơi thích hợp để rửa tội là nhà thờ hay nhà nguyện.
Theo Luật, người lớn phải chịu phép Rửa Tội tại nhà thờ riêng của giáo xứ, nhi đồng tại nhà thờ xứ của cha mẹ, trừ khi lý do chính đáng khuyên nhủ cách khác. Ngoài trường hợp cần thiết, nơi thích hợp để Rửa Tội là nhà thờ hay nhà nguyện.". (Can.857).
"Nhà thờ riêng của giáo xứ" ở đây được hiểu là nơi người tân tòng ấy có cư sở hoặc bán cư sở theo qui định của điều 107; hiểu tương tự như thế cho "nhà thờ xứ của cha mẹ. (xem số 15).
"Nếu người chịu rửa tội, vì ở xa nhau hay vì hoàn cảnh khác, gặp bất tiện nếu đi đến hay được chở đến nhà thờ xứ hoặc nhà thờ hay nhà nguyện khác nói trong điều 858, triệt 2, thì có thể phải cử hành Bí Tích Rửa Tội trong một nhà thờ hay một nhà nguyện khác gần hơn, hay tại một nơi khác xứng đáng.". (Can.859).
"Ngoài trường hợp cần thiết, không được cử hành Bí Tích Rửa Tội trong các nhà tư, trừ khi được Bản Quyền sở tại cho phép vì một lý do quan trọng.
Nếu Giám Mục giáo phận không định thể khác, thì không được cử hành Bí Tích Rửa Tội trong nhà thương, trừ trường hợp cần thiết hay có lý do mục vụ khác đòi buộc.". (Can.860).
118.- GIẾNG RỬA TỘI.
"Mỗi nhà thờ giáo xứ phải có giếng rửa tội, tuy vẫn duy trì quyền lợi mà các nhà thờ khác đã thủ đắc trước đó.
Để tiện lợi cho giáo dân, Bản Quyền sở tại, sau khi Hội ý với Cha Sở, có thể cho phép hay ra lệnh đặt giếng rửa tội trong nhà thờ hay trong nhà nguyện khác nằm trong ranh giới của giáo xứ.". (Can.858).
Sở dĩ Luật minh định ở đây : "Tuy vẫn duy trì quyền lợi mà các nhà thờ khác đã thủ đắc trước đó" là vì trong Bộ Luật 1917 (CIC.774), coi giếng rửa tội như một biểu tượng của nhà thờ giáo xứ, chỉ có nhà thờ giáo xứ mới có đặc quyền có giếng rửa tội và mọi người phải được rửa tội nơi giếng rửa tội. (xem thêm số 117).
119.- TRƯỜNG HỢP NGUY TỬ.
Trong trường hợp nguy tử, người lớn có thể được rửa tội khi đã biết phần nào đó ý muốn lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội và hứa sẽ tuân giữ các điều răn của đạo Công Giáo. (xem c.865).
Trong trường hợp này, người lớn chỉ cần có kiến thức và chấp nhận những điều kiện tối thiểu qui định như sau:
1. Tin vào Thiên Chúa, Đấng thưởng phạt công minh.
2. Tin một Thiên Chúa Ba Ngôi.
3. Tin Ngôi Hai nhập thể cứu chuộc nhân loại.
Nếu không có lý do quan trọng cản trở, người lớn, liền ngay sau khi đã được rửa tội, cần được lãnh Bí tích Thêm Sức, tham dự lễ Thánh Thể và rước lễ ngay sau đó.
Nếu hài nhi gặp cơn nguy tử, phải rửa tội cho nó ngay, không chứt trì hoãn. (xem c.867).
Trong cơn nguy tử, một nhi đồng con của cha mẹ Công giáo, và ngay cả không Công giáo, có thể được rửa tội cách hợp pháp, cho dù trái ý cha mẹ. (xem c.868).
120.- THỪA TÁC VIÊN BÍ TÍCH RỬA TỘI.
"Thừa tác viên thông thường của Bí Tích Rửa Tội là Giám Mục, Linh mục và Phó tế, đặc biệt là các Cha Sở. (xem c.530, 1.).
Khi thừa tác viên thông thường vắng mặt hay bị cản trở, một giáo lý viên được Bản Quyền trao cho nhiệm vụ Rửa Tội sẽ cử hành Bí tích Rửa Tội cách hợp pháp.
Trong trường hợp cần thiết thì bất cứ người nào, với một chủ ý nghiêm chỉnh, cũng có thể cử hành. Các chủ chăn, đặc biệt Cha Sở, phải lo dạy các tín hữu biết cách rửa tội cho đúng.". (Can.861).
"Việc Rửa Tội cho người lớn-ít ra đã chẵn mười bốn tuổi-nên được trình lên Giám Mục giáo phận để chính Ngài đích thân cử hành nếu thấy thuận lợi.". (Can.863).
Mặc dù bất cứ Linh mục hay Phó tế nào cũng có quyền ban Bí tích Rửa tội, nhưng họ không nên ban Bí tích này khi không có phép của Cha Sở hay ít là báo cho Cha Sở của người được rửa tội
biết.
Trong trường hợp khẩn cấp trong cơn nguy tử, bất cứ người nào, ngay cả những người không phải là tín hữu, cũng có thể cử hành Bí tích Rửa tội một cách hữu hiệu, với điều kiện là Bí tích phải được cử hành với một chủ ý nghiêm chỉnh.
121.- RỬA TỘI NGOÀI ĐỊA GIỚI TRÁCH NHIỆM
"Ngoại trừ trường hợp cần thiết, không ai được cử hành Bí Tích Rửa Tội trên lãnh thổ của người khác, dù rằng cho một người thuộc quyền của mình, nếu không có phép hợp lệ.". (Can.862).
Luật minh thị qui định rằng không một Cha Sở nào được phép cử hành Bí tích Rửa Tội, dù là cho người thuộc giáo xứ mình, ở ngoài phạm vi giáo xứ, nếu không có phép của Cha Sở tại địa phương nơi Bí tích Rửa Tội được cử hành, trừ trường hợp cần thiết. Việc cử hành Bí tích Rửa tội không thuộc lãnh vực quyền tài phán mà thuộc lãnh vực năng quyền.
122.- NHỮNG AI ƯỢC RỬA TỘI?
"Tất cả và chỉ những người chưa được rửa tội mới có khả năng lãnh Bí tích Rửa Tội.". (Can.864).
Giáo Luật đặt căn bản trên nguyên tắc thần học như sau:
- Thiên Chúa muốn chúng ta được cứu rỗi qua việc cứu chuộc của Con Ngài bằng sự hiến thân của Chúa Giêsu Kitô.
- Rửa tội là Bí tích giúp chúng ta hòa nhập trong Chúa Kitô để được cứu rỗi.
Hai điều kiện để một người được rửa tội:
1.- Phải là một người còn sống: Một người, vì gồm có linh hồn và thể xác; một xác chết không có khả năng lãnh nhận Bí tích Rửa Tội.
2.- Người ấy chưa bao giờ lãnh nhận Bí tích Rửa tội trước đó, vì Bí tích Rửa tội là một trong những Bí tích in ấn tích trong linh hồn người thụ nhận (xem số 107).
A.- Trường hợp người lớn:
Để có thể được rửa tội, người lớn phải tỏ ý muốn lãnh nhận Bí tích Rửa Tội, phải được giáo dục đầy đủ về các chân lý Đức tin và các nghĩa vụ Kitô giáo, được thử luyện vào đời sống Kitô giáo qua thời gian dự tòng; ngoài ra, phải khuyên nhủ họ thống hối về tội lỗi của mình.
Người lớn, vì có khả năng xử dụng phán đoán, nên việc cộng tác của họ trong dấu hiệu Bí tích là cần thiết để Bí tích sinh ơn cứu độ, như Thánh Augustino đã nói: "Thiên Chúa dựng nên ta, không cần hỏi ý kiến của ta, nhưng Ngài không thể cứu chuộc ta được nếu ta không ưng thuận". Chúa Kitô sai các môn đệ đi rao giảng Tin Mừng và rửa tội cho những người tin theo: "Hãy đi rao giảng Tin Mừng cho muôn dân, ai tin và chịu phép Rửa thì sẽ được cứu rỗi...". (Mc.16,15-16). Người lớn, do đó, không thể được rửa tội nếu họ không biết về ý nghĩa của Bí tích và ước ao lãnh nhận.
Nếu không có lý do quan trọng cản trở, người lớn, liền ngay sau khi đã được rửa tội, cần được lãnh Bí Tích Thêm Sức, tham dự lễ Thánh Thể và rước lễ ngay sau đó. (xem c.866).
B.- Trường hợp nhi đồng:
"Cha mẹ có bổn phận lo cho con mình được rửa tội ngay trong những tuần lễ đầu tiên. Vào dịp sớm nhất sau ngày sinh, hay kể cả trước ngày sinh, cha mẹ hãy đến gặp Cha Sở để xin rửa tội cho con và xin được chuẩn bị kỹ lưỡng về Bí Tích.". (Can.867).
"Để một nhi đồng được rửa tội cách hợp pháp, cần thiết phải:
1. Có sự đồng ý của cha mẹ, ít là của một trong hai, hoặc của người thế quyền cha mẹ theo Luật;
2. Có hy vọng vững chắc rằng em bé sẽ được giáo dục trong đạo Công Giáo. Nếu hoàn toàn không có hy vọng, thì phải hoãn việc rửa tội dựa theo các quy định của Luật địa phương, sau khi đã cho cha mẹ biết lý do.
Trong cơn nguy tử, một nhi đồng con của cha mẹ Công Giáo, và ngay cả không Công Giáo, có thể được rửa tội cách hợp pháp, cho dù trái ý cha mẹ.". (Can.868).
Thật là một sai lầm nếu trì hoãn đợi cho các trẻ em đến tuổi trưởng thành hầu chúng có thể tự ý quyết định lãnh nhận Bí tích Rửa tội hay không. Cũng cần phải sửa đổi các thói quen trì hoãn việc rửa tội cho con cái đến một thời gian thuận tiện, hầu có thể thu xếp được việc gặp gỡ đông đủ của họ hàng thân thích. (xem thêm số 119).
Những điều qui định trong điều Luật 868 này chỉ có ảnh hưởng trong việc hợp pháp hay không của Bí tích Rửa tội, không ảnh hưởng đến việc thành sự của Bí tích.
123.- RỬA TỘI HỒ NGHI.
"Nếu hồ nghi không biết một người đã được rửa tội hay chưa, hoặc Bí tích Rửa Tội đã ban có hữu hiệu hay không, và sự hồ nghi vẫn còn dù sau khi đã điều tra cặn kẽ, thì được ban Bí Tích Rửa Tội với điều kiện.
Những người đã được rửa tội trong một giáo đoàn không Công Giáo, thì không cần rửa tội lại với điều kiện, trừ khi có lý do quan trọng hồ nghi về sự hữu hiệu của Bí tích sau khi đã điều tra chất liệu và công thức dùng trong lúc ban Bí tích Rửa tội, cũng như đã lưu ý đến chủ ý của người trưởng thành được rửa tội và của thừa tác viên cử hành Bí tích.
Trong những trường hợp trên đây, nếu có hoài nghi về việc đã ban hoặc về sự hữu hiệu của Bí tích Rửa Tội, thì chỉ cử hành lại cho người lớn khi đã trình bày cho họ giáo lý Bí tích, và cho đương sự hay cha mẹ, nếu là nhi đồng, biết những lý do hoài nghi về việc hữu hiệu của Bí tích Rửa Tội đã cử hành trước đây.". (Can.869).
Trong tập Niên Giám "Ad Totam Ecclesiam" (14/5/1967) có đề cập đến việc hữu hiệu của những trường hợp rửa tội ngoài Giáo Hội. Niên Giám cho rằng Bí tích Rửa tội ban do các thừa tác viên, thuộc các Giáo-Hội-Đông-Phương-không-Công-Giáo được phỏng đoán là hữu hiệu. Đối với các Giáo-Hội-Kitô-giáo-không-Công-Giáo khác, việc hữu hiệu của Bí tích phải được điều tra cách cẩn thận. Việc điều tra đặt căn bản trên những yếu tố:
(1) Chất liệu và mô thức được xử dụng;
(2) Ý định của người lãnh nhận và ý định của thừa tác viên khi cử hành Bí tích.
"Đứa trẻ bị bỏ rơi hay vô thừa nhận phải được rửa tội, trừ khi đã điều tra cẩn thận và biết chắc em đã được rửa tội rồi.". (Can.870).
"Bào thai bị sảy, nếu còn sống, thì phải được rửa tội, tùy theo mức độ có thể được.". (Can.871).
Cha mẹ, những người liên hệ công tác trong lãnh vực y tế, các bà đỡ, các bác sĩ, các y tá...nên được chỉ dẫn cặn kẽ về việc cử hành nghi thức rửa tội trong trường hợp cần thiết.
124.-NGƯỜI ĐỠ ĐẦU
"Trong mức độ có thể được, phải liệu cho người sắp chịu Bí Tích Rửa Tội có một người đỡ đầu. Nhiệm vụ của người đỡ đầu là tham dự vào việc khai tâm Kitô giáo của người lớn sắp rửa tội; còn đối với nhi đồng sắp rửa tội, người đỡ đầu phải cùng với cha mẹ đem em nhỏ đến rửa tội, rồi cộng tác với cha mẹ giúp em bé đã được rửa tội sống đời sống Kitô giáo cách xứng đáng và tận tụy chu toàn những bổn phận gắn liền với Bí tích Rửa Tội.". (Can.872).
Việc nhận người đỡ đầu hay có người đỡ đầu khi lãnh nhận Bí tích Rửa Tội bắt nguồn từ thời sơ khai của Giáo Hội, khi Hội Thánh bị cấm cách và bắt bớ, các tín hữu là những người rao giảng Tin Mừng và chuẩn bị cho những người tân tòng; việc nhận những người tân tòng vào Giáo Hội đã phải được thực hiện cẩn thận để tránh những nguy cơ bội giáo, lạc giáo hay ly giáo. Chính người rao giảng và chuẩn bị sẽ giới thiệu người tân tòng cho các giáo sĩ và bảo đảm hành vi của họ. Họ là những người đỡ đầu của các người tân tòng.
Ngày nay, Giáo Hội có những qui tắc rõ ràng, ấn định bổn phận và vai trò của những người đỡ đầu trong Bí tích Rửa Tội. Mặc dù mối liên hệ thiêng liêng vẫn hiện diện giữa người đỡ đầu và người được đỡ đầu, nhưng Bộ Giáo Luật 1983 không còn coi mối liên hệ này là ngăn trở hôn phối như trong Bộ Luật 1917 nữa.
"Có thể chỉ nhận một cha đỡ đầu hoặc một mẹ đỡ đầu, hay cả cha và mẹ đỡ đầu.". (Can.873).
"Để được nhận giữ vai trò đỡ đầu, cần:
1. Phải được chọn lựa do chính người sắp được rửa tội, hay cha mẹ của đương sự hoặc người thế quyền cha mẹ; nếu không có cha mẹ và người thế quyền thì Cha Sở hay thừa tác viên rửa tội sẽ chọn lựa. Người được chọn phải có khả năng và chủ ý thi hành nhiệm vụ đỡ đầu;
2. Đã được mười sáu tuổi trọn, trừ khi Giám Mục giáo phận ấn định tuổi khác, hoặc Cha Sở hay thừa tác viên thấy có thể nhận một ngoại lệ vì lý do chính đáng;
3. Phải là người Công giáo, đã chịu Bí Tích Thêm Sức và Bí tích Thánh Thể, lại phải có đời sống xứng hợp với Đức Tin và chức vụ sắp lãnh nhận;
4. Không mắc một hình phạt giáo Luật đã được tuyên kết và tuyên bố hợp lệ;
5. Không phải là cha hay mẹ của người được rửa tội.
Người nào đã được rửa tội nhưng thuộc về một giáo đoàn không Công Giáo, thì chỉ được nhận cùng với một người đỡ đầu Công Giáo, và với tư cách chứng nhân của Bí Tích Rửa Tội mà thôi.". (Can.874).
Có những khác biệt cần lưu ý trong qui định về người đỡ đầu giữa hai Bộ Luật 1917 và 1983 như sau:
A.- Bộ Luật 1917:
CIC.765: Vai trò của người đỡ đầu ảnh hưởng trong việc hữu hiệu của Bí tích.
CIC.766: Vai trò của người đỡ đầu ảnh hưởng trong việc hợp pháp của Bí tích.
CIC.765: Người đỡ đầu chỉ cần đã được rửa tội.
CIC.766: Người đỡ đầu chỉ cần đã được mười bốn tuổi.
CIC.766: Người đỡ đầu không phải là giáo sĩ hay tu sĩ.
B.- Bộ Luật 1983:
Can.875: Vai trò của người đỡ đầu không ảnh hưởng trong việc hữu hiệu hay hợp pháp của Bí tích.
Can.874: Người đỡ đầu không những đã được rửa tội mà còn cần phải đã lãnh nhận Bí tích Thêm Sức và Bí tích Mình Thánh Chúa.
Can.874: Người đỡ đầu phải trên mười sáu tuổi. Giáo sĩ hay tu sĩ vẫn có thể làm cha hay mẹ đỡ đầu.
125.- CHỨNG THƯ RỬA TỘI
"Nếu không gây thiệt hại cho ai hết, thì lời xác quyết của một chứng nhân đáng tin cậy hay lời thề của chính đương sự nếu họ lãnh nhận Bí tích Rửa Tội vào tuổi trưởng thành, cũng đủ để chứng minh việc Bí tích Rửa Tội đã được ban.". (Can.876).
Việc minh chứng rằng một người đã được rửa tội rất quan trọng, vì qua Bí tích Rửa tội, một người được sát nhập vào Giáo Hội của Đức Kitô và thủ đắc nhân cách trong Giáo Hội với những quyền lợi và nghĩa vụ của các tín hữu (xem c.96). Chứng thư rửa tội được coi như chứng-minh-thư của người Công Giáo. Cần thiết cho việc theo học tại chủng viện (xem c.241,2); gia nhập dòng tu (xem c.645,1); lãnh nhận Bí Tích Truyền chức (xem c.1024); kết hôn (xem c.1068).
126.- SỔ GHI RỬA TỘI TẠI GIÁO XỨ.
"Cha Sở nơi cử hành Bí Tích Rửa Tội phải cẩn thận ghi ngay vào sổ Rửa Tội: tên của người lãnh Bí Tích Rửa Tội, của cả người làm chứng; nơi và ngày rửa tội, ngày và nơi sinh.
Nếu là đứa con của người mẹ không có chồng, thì sẽ ghi tên người mẹ vào sổ, khi có thể minh định công khai được mệu hệ hay khi chính người mẹ tự ý xin ghi tên mình vào qua một đơn viết hay trước mặt hai người chứng. Tên của người cha cũng ghi vào sổ nếu phụ hệ được chứng minh do một văn kiện công chứng nào đó, hoặc chính đương sự tuyên bố trước mặt Cha Sở và hai người chứng. Trong những trường hợp khác, sẽ chỉ ghi tên trẻ được rửa tội mà không cần nhắc đến tên của người cha hay của cha mẹ.
Nếu là đứa con nuôi, thì phải ghi tên cha mẹ nuôi và cả cha mẹ ruột theo qui tắc nêu trên, ít là đã ghi như vậy trong chứng thư dân sự tại địa phương; tuy nhiên phải lưu ý đến các chỉ thị của Hội Đồng Giám Mục.". (Can.877).
"Nếu không phải là Cha Sở hay người đại diện Cha sở ban Bí tích Rửa Tội, thì thừa tác viên ban Bí tích Rửa Tội, bất cứ là ai, phải báo cho Cha Sở tại nơi cử hành Bí tích Rửa Tội biết, để ngài ghi vào sổ rửa tội theo điều 877, 2.". (Can.878).
Việc ghi vào sổ rửa tội rất cần thiết để tránh những trường hợp khó khăn sau này như đã từng xảy ra.
Trong trường hợp con nuôi, Bộ Giáo Luật 1983 đòi hỏi phải ghi rõ ràng cả cha mẹ nuôi lẫn cha mẹ ruột. Điều này rất quan trọng vì ảnh hưởng đến những ngăn trở trong Luật hôn phối. (xem thêm số 247).
|